Hiển thị các bài đăng có nhãn mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Lịch sử hình thành liên bang Hoa Kỳ và những điều không dễ nói

Tại nước Mỹ nếu các bạn hỏi một người Việt, hay thậm chí là một người Mỹ rằng tại sao nước Mỹ to lớn như bây giờ, quá trình bành trướng lãnh thổ của Mỹ diễn ra như thế nào, ngoài Chiến tranh Việt Nam và các cuộc chiến gần đây thì Mỹ còn đem quân đánh những nơi nào v.v., thì các bạn sẽ thấy rằng họ không biết câu trả lời. Điều đó có lẽ từ sự tránh né nói về đề tài này trong giáo dục phổ thông và trên báo chí chính thống. Rất may, các trang thông tin trên Internet và các tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu đã trình bày, liệt kê, miêu tả những sự kiện quan trọng, những giai đoạn trong suốt quá trình bành trướng khu vực và quốc tế, mở rộng cương thổ của Hoa Kỳ. Bài viết này tổng hợp lại các thông tin, sự kiện để phần nào giải đáp câu hỏi: Tại sao nước Mỹ rộng lớn như hiện nay.

Năm 1775, tướng George Washington, vốn là một viên tướng tư lệnh người thuộc địa gốc Anh, đã từng chỉ huy trung đoàn dân quân địa phương trang bị nhẹ ở thuộc địa Virginia đánh bại nhiều bộ tộc châu Mỹ bản xứ và thực dân Pháp, cùng các chiến hữu thành lập lực lượng nổi dậy "Lục quân Lục địa", lãnh đạo quân nổi dậy của 13 thuộc địa tạo phản chống thực dân Anh. Sau tám năm chiến tranh, thực dân Anh thua, phải ký hiệp định Paris 1783 rút quân ra khỏi 13 thuộc địa. George Washington và các chiến hữu tuyên bố 13 thuộc địa độc lập, ly khai nước Anh, và thành lập liên bang Hoa Kỳ.

Từ đó, mười ba thuộc địa trở thành mười ba tiểu bang nằm trong liên bang Mỹ. Từ 13 tiểu bang nguyên thủy, Mỹ đã bành trướng lãnh thổ lên thành một nước rộng lớn với 50 bang với nhiều lãnh thổ phụ thuộc, bao gồm vùng quốc hải (Insular area), Puerto Rico, Samoa, Guam, 2 quần đảo và 9 hòn đảo.

Các khu vực thuộc địa của thực dân Anh ở Bắc Mỹ. Khu vực số 3 bao gồm 13 thuộc địa, sau này trở thành nước Hoa Kỳ với 13 tiểu bang đầu tiên.



Từ một quốc gia có diện tích khiêm tốn, liên bang Hoa Kỳ đã trở thành to lớn như hiện nay.



Các tiểu bang thuộc liên bang Hoa Kỳ


Chính sách bành trướng toàn cầu và chủ nghĩa đế quốc của Mỹ đã làm sản sinh ra những khái niệm và thuật ngữ mới trong giới khoa học chính trị quốc tế như "đế quốc Mỹ", "tiểu bang thứ 51", "vận mệnh hiển nhiên"....

Thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" đầu tiên được dùng để nói về các vấn đề liên quan tới hoàng đế Napoleon của Pháp, và cũng được dùng khi nói về chính sách ngoại giao của Anh. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi hơn trong thế kỷ 19 và đầu tiên được sử dụng một cách phổ biến để nói về Hoa Kỳ bởi Liên minh Hoa Kỳ chống Đế quốc, được thành lập năm 1898 để chống chiến tranh Tây Ban Nha - Hoa Kỳ và sự chiếm đóng quân sự cùng những tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ ở Philippines sau đó.

Trong chiến tranh xâm lược Philippines, tướng Mỹ Jacob Smith hạ lệnh "Giết tất cả người nào trên 10 tuổi" ("Kill everyone over ten"). Câu ở dưới tranh biếm họa (1902) là: "Họ là tội phạm chỉ vì họ sinh ra 10 năm trước khi chúng ta lấy Philippines" ("Criminals Because They Were Born Ten Years Before We Took the Philippines"). Jacob Smith là một kẻ bị dư luận gọi là một hung thần (monster), hắn gây rất nhiều tội ác trong các cuộc chiến ở Mỹ và Philippines và còn thường xuyên "khoe khoang" về những "thành tích" đó. Sau đó, trước áp lực dư luận thế giới, Mỹ đành phải đưa Smith ra tòa án quân sự, nhưng hắn không bị 1 ngày ngồi tù nào mà chỉ bị đề nghị, thuyết phục để tự nghỉ hưu trong danh dự.


Tư tưởng bành trướng quốc tế của Mỹ được thể hiện rõ qua khái niệm "Vận mệnh hiển nhiên" (Manifest Destiny), "vận mệnh hiển nhiên" là một niềm tin của người Mỹ rằng họ có "vận mệnh" mở rộng lãnh thổ từ duyên hải Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Khái niệm này cũng được sử dụng để hô hào và biện hộ cho việc thu phục các lãnh thổ khác.

Những người theo tư tưởng này tin rằng mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ không chỉ tốt đẹp mà còn là "hiển nhiên" và là "vận mệnh". Ban đầu, "Manifest Destiny" là một từ có tính cách thời thế chính trị trong thế kỷ 19 nhưng dần dần nó trở thành thuật ngữ chuẩn lịch sử, thường được dùng như đồng nghĩa với việc mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ khắp Bắc Mỹ.

Thuật ngữ này không được những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ sử dụng trong đầu thế kỷ 20 nhưng một số nhà bình luận tin rằng một số khía cạnh của niềm tin "Vận mệnh hiển nhiên", đặc biệt là tư tưởng, niềm tin, chủ nghĩa đại bá quyền về một "nhiệm vụ" của người Mỹ là bành trướng thế lực, mở rộng tầm ảnh hưởng ra khắp thế giới dưới chiêu bài chính trị "khai hóa dân chủ", "khai hóa văn minh".

Tác phẩm nổi tiếng năm 1872 của họa sĩ John Gast, có tên "American Progress" (Quá trình tiến tới của Hoa Kỳ), là một sự miêu tả mang tính biểu tượng về tư tưởng "Vận mệnh hiển nhiên". Trong hình là nàng Columbia, một hình tượng được nhân cách hóa như là nước Hoa Kỳ, đi phía Tây cùng với những người định cư Mỹ vì sự nghiệp "khai hóa". Người Mỹ bản địa (Native American) cùng thú hoang bỏ chạy.



Biếm họa về tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt và "cây roi lớn" của ông ta ở vùng Caribe, trong chiến dịch xâm chiếm Puerto Rico. Ý tưởng biếm họa này là xuất phát từ một tuyên bố "cởi mở" và đầy tự hào của Roosevelt: "Đó là vận mệnh hiển nhiên khi một quốc gia làm chủ một quần đảo giáp bờ biển của họ." ("It is manifest destiny for a nation to own the islands which border its shores.") và nếu "Bất kỳ một nước Nam Mỹ nào không ngoan ngoãn thì phải bị cho ăn đòn." ("Any South American country misbehaves it should be spanked.")


Tư tưởng nước lớn của Mỹ cũng được thể hiện qua khái niệm "Tiểu bang thứ 51" (51st state), đó là một thuật ngữ để chỉ những vùng được nghiêm túc hoặc mỉa mai cho rằng có thể trở thành một vùng đất mới của Hoa Kỳ, cộng thêm vào 50 tiểu bang sẵn có của họ. Trước năm 1959, khi Hawaii và Alaska chưa sát nhập vào liên bang Hoa Kỳ thì thuật ngữ "49th state" (tiểu bang thứ 49) đã được dùng. Gần đây nhất, Puerto Rico có khả năng thành tiểu bang thứ 51.

Cụm từ "tiểu bang thứ 51" cũng được dùng để nói về các quốc gia chư hầu, nhà nước vệ tinh, hoặc thuộc địa kiểu mới, đã hoặc đang nằm dưới sự ảnh hưởng hoặc điều khiển từ chính phủ Hoa Kỳ. Trong nhiều nước trên thế giới, nhiều người thấy rằng văn hóa, truyền thống dân tộc của họ đã bị Mỹ hóa quá nhiều, các nhóm này cũng thường sử dụng thuật ngữ "tiểu bang thứ 51" như là một cái nhìn nghiêm khắc về nước họ.

Các sự kiện tiêu biểu trong quá trình mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ

Cuộc trường kỳ kháng chiến bi tráng của thổ dân Mỹ

Lâu nay mỗi khi nhắc đến thổ dân bản xứ châu Mỹ thì nhiều người trong chúng ta, do ảnh hưởng từ hệ thống tuyên truyền, giáo dục, phim ảnh thời Pháp, thời Mỹ, nên đầu óc hiện lên ngay hình ảnh của những kẻ ăn lông ở lỗ, rồi gom chung lại gọi họ là "mọi da đỏ". Sự thật có phải vậy không?

Sự thật là châu Mỹ nói chung và Bắc Mỹ, Hoa Kỳ nói riêng, trước khi thực dân phương Tây đến thôn tính, đã tồn tại hàng trăm dân tộc với các văn hóa và ngôn ngữ khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú. Người phương Tây cho rằng mình văn minh hơn nên ban đầu họ không cần biết ai là ai, họ khái quát hóa lại hết và gom hết vào gọi chung là Indian (vì nhà thám hiểm Christopher Columbus ban đầu nhầm lẫn đây là Ấn Độ), và khi thấy một vài chủng tộc có da nâu đậm hoặc một số bộ lạc có phong tục nhuộm mặt đỏ hoặc có những hình vẽ màu đỏ trên mặt để kích thích ý chí chiến đấu, thì họ gọi đó là Redskin hoặc Red Indians, và từ đó danh từ mang tính lăng mạ "mọi da đỏ" được sử dụng phổ biến.

Khi xem hình vẽ, các phim ảnh Hollywood, các truyện tranh của Mỹ, bao gồm cả các hình vẽ minh họa trong sách giáo khoa cấp phổ thông, thì người ta luôn thấy các hình ảnh thổ dân ăn mặc gần như là khỏa thân, chỉ đóng mỗi cái khố, ăn lông ở lỗ, như các dân tộc thiểu số hay con người trong thời thượng cổ, bán khai.

Thật ra nếu các bạn đến các tiểu bang phía Bắc nước Mỹ thì các bạn sẽ thấy lạnh căm, đông đá, tuyết phủ. Không cần là các bang phía Bắc, kể cả các bang phía Nam như Texas, Arizona, New Mexico, Florida khi mùa đông đến thì thời tiết khí hậu rất lạnh. Như vậy thì làm sao có thể ăn mặc ít vải gần như khỏa thân, để mình trần đóng mỗi một cái khố như trong sách và phim điện ảnh mô tả mà có thể chịu rét nổi.



Từ trên xuống dưới: Kaintwakon (biệt danh: Người trồng ngô), thủ lĩnh của người Seneca, và Thayendanegea, thủ lĩnh của người Mohawk. Hai ông là thủ lĩnh quân đội kiệt hiệt của liên minh Iroquois.

Đúng là có một ít tộc người, bộ lạc ở Nam Mỹ gần xích đạo, hoặc những ngư dân sống gần biển, dân đảo, là ăn mặc thiếu vải, bởi vì họ không có nhu cầu đó, và họ sinh hoạt chủ yếu dưới nước không cần nhiều y phục. Hoặc có khi đơn giản là một số người thích cởi trần cho mát khi sinh hoạt thường nhật, như bao nhiêu người trên thế giới ngày nay.

Hiện tượng "khái quát hóa", "mọi rợ hóa", "man di hóa" các sắc tộc, sắc dân khác của Mỹ và phương Tây cũng tương tự như người Hán ở Trung Quốc thời phong kiến từng gom chung lại gọi bốn phương quanh họ là "Đông di, Tây nhung, Nam man, Bắc địch".

Các chính phủ và hệ thống giáo dục nhà nước của Mỹ và phương Tây lâu nay luôn lẩn tránh hoặc viết lại lịch sử một cách xuyên tạc, bóp méo để chạy tội xâm lược, bành trướng, và các tội ác diệt chủng, thảm sát quy mô lớn mà các cha anh của họ đã gây ra ở châu Mỹ.

Theo ước tính của nhóm nghiên cứu đạo đức học (ethic studies) của trường đại học Colorado, thì thổ dân Bắc Mỹ có khoảng 15 triệu người khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890. Ban đầu họ không hề là các dân tộc thiểu số, mà họ chính là những dân tộc đa số, chỉ sau khi bị quân xâm lược tiến hành những cuộc chiến tranh diệt chủng, diệt tộc, hoặc đô hộ, đồng hóa, thì họ mới bị trở thành thiểu số.

Giáo sư đại học Hawaii, sử gia David Stannard, trong sách "American Holocaust: The Conquest of the New World" (Cuộc diệt chủng Holocaust của Mỹ: Cuộc chinh phục Tân thế giới), do NXB đại học Oxford (Anh) xuất bản, đã cho biết: "Trong vòng bốn thế kỷ - từ thập kỷ 1490 đến 1890 - người châu Âu và người Mỹ trắng đã tham gia một chuỗi liên tục các chiến dịch diệt chủng chống nhân dân châu Mỹ bản xứ. Đó là hành động diệt chủng có quy mô lớn nhất trong lịch sử thế giới."

"During the course of four centuries - from the 1490s to the 1890s - Europeans and white Americans engaged in an unbroken string of genocide campaigns against the native peoples of the Americas. It was, far and away, the most massive act of genocide in the history of the world."

Trong loạt phim tài liệu "500 Nations" (500 dân tộc), nói về các nền văn minh, nhà nước, đế chế, vương quốc, dân tộc, bộ tộc, bộ lạc ở Bắc Mỹ, Trung Mỹ, và cuộc kháng chiến kiên cường bi tráng của họ trước quân xâm lược thực dân châu Âu, nhà sản xuất kiêm đạo diễn Kevin Costner đã giới thiệu:

"Từ rất lâu trước khi những người châu Âu đầu tiên đến đây, đã có chừng 500 dân tộc đã ở Bắc Mỹ. Họ bao trùm châu lục từ bờ biển đến bờ biển, từ Trung Mỹ đến Bắc Băng Dương. Có hàng chục triệu người ở đây, nói hơn 300 ngôn ngữ. Nhiều dân tộc trong số đó sinh sống trong các thành phố đẹp, thuộc loại các đô thị lớn và tân kỳ nhất trên thế giới. Phim tài liệu 500 Dân tộc nhìn lại các nền văn hóa cổ đó, họ sống ra sao, và bao nhiêu trong số họ còn sống sót.... Những gì các bạn sẽ nhìn thấy trong phim chính là những gì đã xảy ra. Những gì trong phim chỉ là một phần, không phải là tất cả những gì đã xảy ra, và không phải đoạn phim nào cũng dễ xem. Chúng ta không thể thay đổi nó. Chúng ta không thể vặn lại kim đồng hồ. Nhưng chúng ta có thể mở mắt ra và cho các dân tộc đầu tiên trên mảnh đất này sự công nhận và tôn trọng họ đáng phải được: Vị trí chính đáng của họ trong lịch sử thế giới."

"Long before the first Europeans arrived here, there were some 500 nations already in North America. They blanketed the continent from coast to coast, from Central America to the Arctic. There were tens of millions of people here, speaking over 300 languages. Many of them lived in beautiful cities, among the largest and most advanced in the world. In the coming hours, 500 Nations looks back on those ancient cultures, how they lived, and how many survived.... What you're about to see is what happened. It's not all that happened, and it's not always pleasant. We can't change that. We can't turn back the clock. But we can open our eyes and give the first nations of this land the recognition and respect they deserve: their rightful place in the history of the world."

Trong số khoảng 500 dân tộc đó có nhiều bộ tộc, thị tộc, bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc. Và còn có những dân tộc với nền văn minh, văn hóa phát triển cao với các thể chế chính trị đã phát triển cao, bao gồm các đế quốc, vương triều, nhà nước, chính quyền, quân đội có tổ chức, hệ thống hành chính, và các quan hệ vua tôi, thần dân, họ thu thuế và sử dụng một số loại tiền riêng làm bằng đồng (Axe-monies).

Đại Liên minh phía Tây, nền văn minh Maya, Aztec, và Inca

Tại châu Mỹ trong các thời kỳ khác nhau, những lực lượng lớn mạnh nhất có thể kể đến: Tại Bắc Mỹ có liên minh chính trị quân sự "Đại Liên minh phía Tây" (Western Confederacy, phần lớn thuộc nước Mỹ và Canada ngày nay), một liên minh rộng lớn bao gồm nhiều liên minh nhỏ hơn, nhưng khá lỏng lẻo. Đại liên minh này bao gồm Liên minh Iroquois (lớn nhất trong đại liên minh), liên minh Hội đồng Tam Hỏa, liên minh 7 nước Canada (7 dân tộc bản địa ở khu vực phía Nam Canada ngày nay), Liên minh Wabash (gồm các tộc Wea, Piankashaw và nhiều nhóm khác), liên minh Illini, và 10 lực lượng lớn khác.

Tại Trung Mỹ có nền văn minh, đế chế Maya và Aztec (phần lớn thuộc Mexico ngày nay). Và tại Nam Mỹ có nền văn minh, đế chế Inca (phần lớn thuộc Peru ngày nay).

Đại Liên minh phía Tây đã bị quân đội liên bang Mỹ tiêu diệt sau trận Fallen Timbers năm 1794. Một năm sau (1795) chính thức kết thúc cuộc đấu tranh chống thực dân Mỹ ở khu vực phía Bắc. Liên minh chính thức tan rã sau hơn 10 năm thành lập để kháng chiến chống sự xâm nhập của đế quốc Mỹ lên phía Bắc.

Lãnh thổ của đế chế Maya



Kim tự tháp của nền văn minh Maya, một trong những kỳ quan thế giới.


Nền văn minh, đế chế Maya đến thế kỷ 9 thì suy tàn, quyền lực trung ương bị tan rã và chia làm nhiều phe phái, quyền lực, thế lực khác nhau. Đến năm 1511, thực dân Tây Ban Nha bắt đầu mở cuộc chinh phạt các thế lực còn lại của người Maya, bắt đầu bằng chiến dịch chinh phạt vùng Yucatán, sau đó là vùng Guatemala và Petén.

Không giống như hai đế chế Aztec và Inca, khi thực dân Tây Ban Nha chỉ cần hành quyết vua và các lãnh tụ kháng chiến là xong, các thế hệ người Maya dù các lãnh tụ của họ bị hành hình thì họ vẫn nối tiếp nhau liên tục đứng lên kháng chiến đuổi quân ngoại xâm. Sự chống cự dữ dội và thường xuyên của người Maya làm cho thực dân Tây Ban Nha tốn 186 năm mới hoàn thành bình định. Itza, vương quốc cuối cùng của dân tộc Maya chịu thất bại trước Tây Ban Nha vào năm 1697.

Lãnh thổ của đế chế Aztec



Kim tự tháp của nền văn minh Aztec


Đế chế Aztec hay còn gọi là liên minh chân vạc Aztec (Aztec Tripple Alliance - gồm 3 khu vực lớn Tenochtitlan, Texcoco, Tlacopan) là một nền văn minh rực rỡ ở Trung Mỹ. Năm 1519, tướng Hernán Cortés của đế quốc Tây Ban Nha đem 8 vạn quân Tây Ban Nha và hơn 20 vạn ngụy quân bản xứ khai hỏa chiến tranh xâm lược.

Sau 2 năm chiến tranh, Cortés san bằng kinh đô Tenochtitlan (thành phố lớn nhất đế chế Aztec và một trong những thành phố thịnh vượng và lớn nhất thế giới thời đó), đế chế Aztec bị tiêu diệt, các hoàng đế Aztec bị hành quyết, Aztec trở thành thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha.

Lãnh thổ mở rộng của đế chế Inca theo từng thời kỳ.


Một góc phế tích của đế chế Inca huy hoàng một thời.

Đế chế Inca cũng là một nước lớn, một đế chế cực thịnh, giàu mạnh và là một nền văn minh lớn ở Nam Mỹ. Năm 1526, những người Tây Ban Nha đầu tiên đến đây. Sau một thời gian thăm dò, họ cố ý đem những người bệnh đậu mùa đến sống lẫn lộn với người dân bản địa. Bệnh đậu mùa lúc đó vốn không xa lạ gì với người châu Âu, cơ thể họ đã quen thuộc và có kháng sinh, họ còn có bác sĩ và thuốc trị. Nhưng người Inca thì không có những thứ đó vì đó là một căn bệnh mới lạ với họ. Thế là một cơn đại dịch bùng nổ và truyền nhiễm lây lan, làm hàng vạn người bệnh chết. Quốc vương Huayna Capac của Inca cũng bị nhiễm bệnh.

Năm 1528, quốc vương Huayna Capac của Inca không chống nổi nên qua đời. Do chết vì căn bệnh quái ác nên không có chuẩn bị hậu sự, thế là cuộc nội chiến Inca nổ ra giữa 2 vương tử Atahualpa và Huáscar để tranh giành ngôi báu.

Giữa lúc đó, hai tướng Francisco Pizarro và Diego de Almagro của đế quốc Tây Ban Nha dẫn quân xâm lược Inca, chia làm hai cánh quân tấn công các thành phố quan trọng. Cuộc nội chiến biến thành cuộc chiến tranh tay ba giữa quân đội Tây Ban Nha và 2 vương tử. Atahualpa đánh bại và đuổi đi Huáscar, lên ngôi vua. Thực dân Tây Ban Nha hành thích Huáscar sau đó đổ cho Atahualpa, kích động mọi người chống Atahualpa hay ít nhất không ủng hộ, giúp đỡ tân hoàng đế. Không lâu sau đó Atahualpa bị tướng Tây Ban Nha Francisco Pizarro đánh bại và hành quyết. Người Tây Ban Nha đưa vương tử trẻ Manco Inca lên làm "hoàng đế".

Năm 1536, hoàng đế Manco không cam tâm làm một con rối nữa, thì một cơ hội bằng vàng đã xuất hiện: Hai đại gia tộc Tây Ban Nha ở đây là gia tộc Pizarro và gia tộc Almagro là hai thế lực lớn tại đây và đang rạn nứt, mâu thuẫn trở súng bắn nhau. Manco thừa cơ ngầm liên lạc với các thế lực bản địa trung thành, nổi dậy bao vây thành Cusco, tướng Tây Ban Nha là Juan Pizarro tử trận, và tướng Quizo Yupanqui của Inca kéo quân tấn công thành phố đặc quyền của người Tây Ban Nha là Lima. Vua Manco thân chinh chỉ huy gần 3 vạn quân đánh bại tướng Hernando Pizarro cùng với 100 quân Tây Ban Nha và hơn 3 vạn ngụy quân trong trận Ollantaytambo, một trận đánh lớn trong chiến tranh Tây Ban Nha - Inca.

Nhưng ngay sau đó người Tây Ban Nha lập tức phục hồi, chuyển bại thành thắng và tái chiếm thành Cusco. Tướng Tây Ban Nha Rodrigo Orgonez đánh chiếm Vitcos và bắt làm con tin con trai của Manco Inca là Titu Cusi. Manco Inca đào thoát và lui vào vùng núi Vilcabamba lập thủ đô kháng chiến, từ nơi đây Manco Inca và những người nối ngôi đã trị vì thêm được 36 năm nữa. Năm 1572, cứ điểm cố thủ cuối của người Inca bị thôn tính, và vị hoàng đế cuối cùng, Túpac Amaru, bị hành quyết. Sự kiện này đã chấm dứt cuộc kháng chiến chống Tây Ban Nha của người Inca.

Sau khi hoàn thành bình định lãnh thổ Inca, người Tây Ban Nha hủy diệt thủ đô kháng chiến Vilcabamba và bắt các nô lệ trai tráng xây lại thành phố mới theo phong cách thẩm mỹ phương Tây. Những người còn lại, bao gồm cả người già, trẻ em, phụ nữ bị cưỡng bách di cư qua một thành phố Công giáo mới là San Francisco de la Victoria de Vilcabamba. Từ đó dân Inca bị bắt ép đi vào các "nhà thờ" trá hình nghe "giảng đạo", một hình thức tẩy não, nhồi sọ, đồng hóa. Việc cưỡng bách di cư ra khỏi nơi họ quen thuộc vừa là để triệt tiêu ưu thế quen thuộc địa hình của họ trong cuộc chiến tranh du kích, vừa để triệt tiêu ý chí kháng cự bảo vệ quê hương thôn xóm của họ.

Sau khi đế chế Inca hoàn toàn sụp đổ, nhiều thành phần văn hóa của Inca bị hủy diệt có hệ thống, bao gồm hệ thống nghề nông phức tạp của họ. Từ đó, mỗi một gia đình Inca phải cử 1 người lao động khổ sai ở các mỏ vàng, mỏ bạc. Khi một thành viên gia đình bị chết, điều rất thường xuyên xảy ra sau một hai năm, thì gia đình nạn nhân vẫn phải cử 1 người thay thế.

Các thảm họa, thảm cảnh trên không chỉ xảy ra riêng với người Inca, mà là xảy ra với hầu hết thổ dân châu Mỹ. Họ bị diệt chủng, diệt tộc, diệt môn, hủy diệt các nền văn minh, văn hóa. Những người sống sót thì bị cưỡng bách di cư, đày đọa họ lên Khu dành riêng cho người bản địa Mỹ (Indian reservation), vốn là những vùng sâu vùng xa, khô cằn sỏi đá. Họ còn bị tẩy não, nhồi sọ và Tây hóa, Mỹ hóa một cách có hệ thống.

Các thị tộc, gia tộc hay nhân tài ưu tú, có năng lực lãnh đạo đám đông, đều bị thực dân đế quốc Mỹ và phương Tây triển khai các chiến dịch "nhổ cỏ nhổ tận gốc", thủ tiêu, ám sát, hay thậm chí là thảm sát, chôn sống, gây ra các tội ác diệt chủng đúng nghĩa. Do đó từ đó đến nay các dân tộc đó tuy còn tồn tại như một dân tộc thiểu số, nhưng không sản sinh ra nổi một nhân vật kỳ tài kiệt xuất nào như xưa, mặc dù quá khứ của dân tộc họ rất vẻ vang.

Khu dành riêng cho người Laguna tại một nơi hẻo lánh ở tiểu bang New Mexico. Đa số các khu vực cô lập dành riêng cho thổ dân Mỹ nằm ở miền Tây Hoa Kỳ, thường trong những vùng khô cằn không hợp cho nông nghiệp.


Một vấn đề đáng nói rút ra sự kiện mất nước, vong quốc của Aztec và Inca là: Có rất nhiều dân tộc, bộ tộc, bộ lạc, thế lực chung quanh Aztec và Inca lâu nay do ghét hoặc sợ trước sự lớn mạnh của 2 đế chế cường thịnh này, hoặc bị 2 anh to con này chèn ép, bắt nạt, rồi bị người Tây Ban Nha dụ dỗ, họ liền liên minh đi theo quân Tây Ban Nha đánh anh hàng xóm to lớn kia. Và sau khi Aztec, Inca sụp đổ thì chính họ cũng bị "làm thịt" nốt. Khi thế lực mạnh nhất trong vùng đã tan rã trước kẻ thù bên ngoài, thì các thế lực nhỏ hơn cũng không thể tồn tại.

So sánh với trường hợp Việt Nam thì chúng ta có thể nhận định rằng cha ông, cha anh ta thật khôn ngoan, già dặn, lão luyện hơn nhiều so các dân tộc láng giềng của đế chế Aztec và Inca. Dù không ưa và luôn đề cao cảnh giác trước anh hàng xóm to con, nhưng trong lịch sử dân mình chưa bao giờ ủng hộ các thế lực bên ngoài xâm lược Trung Quốc, dù đó là đế chế Mông Cổ, bộ tộc Mãn Châu, Bát quốc liên quân, hay đế quốc Nhật Bản.

Các lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật và nhiều người khác đều đã từng sang Trung Quốc nhờ giúp đỡ chống Pháp. Về sau, cách mạng Việt Nam cũng nhờ sự giúp đỡ một phần của Trung Quốc để chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Ông bà tổ tiên Việt Nam đã truyền dạy khái niệm "Bà con xa không bằng láng giềng gần" cho con cháu. Đó là sự đúc kết từ trải nghiệm ngàn năm từ thực tiễn cuộc sống thu nhỏ. Bởi vì láng giềng gần dù muốn dù không, vẫn có mối quan hệ lợi ích cộng sinh gắn kết hơn nhiều so với những người ở xa, dù đó là bà con họ hàng của chúng ta đi nữa.

Thường các cụ không dạy sai bao giờ, vì đó là từ những kinh nghiệm xương máu. Nếu tìm hiểu và xem xét lịch sử Việt Nam và thế giới, xem các kết quả, các mối quan hệ nhân quả, thì chúng ta càng thấy ông bà mình dạy đúng.

Rất tiếc lâu nay luôn có một bộ phận do không nhìn thấy hoặc không muốn nhìn thấy những đạo lý đó, nên thường hay có tư tưởng làm trái lời dạy tiền nhân, luôn muốn dựa vào những kẻ không hề là "bà con" ở cách xa nửa vòng trái đất, để chống lại tên hàng xóm to lớn ngang ngược.

Chẳng những họ không hề là "bà con", mà còn là những cựu thù có bề dày tội ác chất cao như núi ở Đông Dương, Đông Nam Á và khắp thế giới. Các "thành tích" tội ác và bành trướng của họ đã là ở tầm vóc toàn cầu và bỏ xa tên hàng xóm phía Bắc, dù rằng tên hàng xóm đó cũng chẳng phải là "thiện nam tín nữ" gì.

Chiến cuộc tại Hoa Kỳ

Năm 1776, chiến tranh Cherokee II (chiến tranh Cherokee I là cuộc chiến giữa người Cherokee và đế quốc Anh) xảy ra, lực lượng vũ trang của dân tộc bản xứ Cherokee chiến đấu tự vệ trước sự xâm lấn của Mỹ vào khu vực Đông Tennessee và Đông Kentucky của họ. Sau đó cuộc xung đột dai dẳng tiếp diễn với cuộc chiến tranh Chickamaga, khi các bộ tộc, bộ lạc bản xứ liên minh lại với nhau chống quân đội Mỹ. Năm 1794, họ thất bại hoàn toàn và khu vực này bị sát nhập vào các bang Tennessee và Kentucky của Mỹ.

Năm 1785, chiến tranh Da đỏ Tây Bắc nổ ra, một chuỗi trận đánh đẫm máu giữa nhiều bộ tộc, bộ lạc, lực lượng người Bắc Mỹ bản xứ với quân đội Mỹ, bảo vệ lãnh địa của họ ở Ohio. Mục đích của các chiến dịch xâm lược của quân Mỹ là để áp đặt quyền làm chủ thực tế của chính phủ Mỹ tại các vùng đất mới này. Chiến tranh kết thúc năm 1795 với phần thắng thuộc về Mỹ.

Năm 1810, các tộc người Mỹ bản địa ở Tây Florida tuyên bố độc lập. Tổng thống Mỹ James Madison tức tốc cho lục quân Hoa Kỳ đến xâm chiếm, tiêu diệt nhà nước non trẻ và sát nhập Tây Florida vào liên bang Mỹ.

Năm 1812, Mỹ đánh chiếm vùng Ohio (nơi các thế lực thực dân châu Âu và thổ dân Mỹ đang giành quyền kiểm soát). Năm 1814, những vùng khác ở Florida lúc này đang là thuộc địa của Tây Ban Nha. Khi Tây Ban Nha thất thế thì Anh và Mỹ xông vào giành nhau. Tướng Mỹ Andrew Jackson đánh bại quân Anh và chiếm lấy thành phố Pensacola, Florida.

Năm 1816, Florida bùng nổ cuộc chiến Seminole I, khi tướng Jackson và tướng Edmund Gaines đem quân truy bắt các nô lệ bỏ trốn. Họ viện cớ người da đỏ Seminole chứa chấp những nô lệ da đen đang ẩn náu, vi phạm hợp đồng nô lệ, và cho quân đánh thẳng vào, sát nhập lãnh thổ của người Seminole vào Bắc Florida. Sau đó Jackson và Gaines mở chiến dịch tấn công một loạt hải cảng của Tây Ban Nha và chiếm lấy, hàng ngàn công dân Anh, Tây Ban Nha, người da đen, người da đỏ đã bị hành quyết. Năm 1819, tất cả những vùng ở Florida sát nhập vào nước Mỹ.

Năm 1835 - 1842, người Seminole lần nữa nổi dậy giành lại đất của họ ở Florida nhưng đều bị lục quân Mỹ, với sự trợ giúp của hải quân, đàn áp triệt để. Chính phủ Mỹ viện nhiều cớ rồi cưỡng ép lưu đày người Seminole qua phía Tây Mississippi. Mỹ cô lập dân Seminole trong những vùng khô cằn sỏi đá, khan hiếm tài nguyên, không thể trồng trọt hay chăn nuôi. Chính phủ Mỹ đã đẩy dân tộc Seminole xa khỏi quê hương của họ, kết thúc 7 năm kháng chiến của người Seminole.

Năm 1890 xảy ra trận đánh Wounded Knee: Sư đoàn 7 Kỵ binh Hoa Kỳ giết 178 người da đỏ Sioux và Lakota trong một cuộc xô xát giữa lính Mỹ với người Lakota và người Sioux gần sông Woulded Knee. Liên quân Lakota và Sioux còn bị thương 89 người, 150 người mất tích; lục quân Hoa Kỳ bị chết trận 25 người, 39 người bị thương. Trong trận này người Lakota và Sioux đã tận dụng sự thông thạo địa hình để đột kích và phục kích kỵ binh Mỹ, và đã gây thương vong đáng kể cho quân đội Mỹ. Nhưng họ vẫn bại trận.

Lili'uokalani, nữ hoàng cuối cùng của đảo quốc Hawaii


Năm 1893, quân đội Mỹ xâm lược và đảo chính, lật đổ vương quốc Hawaii, sát nhập nước này vào liên bang Hoa Kỳ. Mỹ đồng thời xâm lược và chiếm luôn đảo Palmyra gần đó.

Ngoài ra còn có khoảng 100 cuộc chiến và hàng chục ngàn trận chiến khác đã diễn ra trên đất Mỹ từ năm 1783 đến 1924. Cuối cùng, cuộc kháng chiến bi hùng 302 năm chống thực dân phương Tây và 141 năm chống đế quốc Mỹ của thổ dân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Cuộc chiến Apache tại mặt trận Tây Nam vào năm 1924 giữa kháng chiến quân của tộc Apache chống đỡ cuộc xâm lăng của quân đội liên bang Hoa Kỳ đã đánh dấu kết quả chiến bại cuối cùng và khép lại cuộc kháng chiến trường kỳ 302 năm của người Mỹ bản xứ, kể từ trận Jamestown năm 1622 giữa thực dân Anh và liên minh Powhatan ở thuộc địa Virginia.




Từ trên xuống dưới: Maȟpíya Ičáȟtagya (biệt danh: Chạm vào mây), thủ lĩnh của người Lakota. Mishikinakwa (biệt danh: Rùa nhỏ), thủ lĩnh và danh tướng của người Miami. Dưới cùng, bên phải cùng: Geronimo (biệt danh: Người ngáp ngủ), thủ lĩnh quân sự của người Apache, một trong những thủ lĩnh cuối cùng của thổ dân Mỹ trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Họ đều là những chiến tướng nổi danh của thổ dân Bắc Mỹ, đặc biệt là Mishikinakwa, là một kỳ tài quân sự hiếm có của thổ dân, đã chỉ huy quân đội thổ dân đánh thắng nhiều trận lừng danh trước quân đội Hoa Kỳ và gây cho địch những tổn thất to lớn.

Đàn áp những cuộc nổi dậy trong nước

Năm 1786 - 1787, cuộc khởi nghĩa Shays ở miền Tây bang Massachusetts để chống lại tệ nạn áp bức siết tín dụng, siết nợ của tư bản tài phiệt Mỹ. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp sau gần 1 năm.

Năm 1791 - 1794, cuộc khởi nghĩa Whiskey chống sưu cao thuế nặng và bất công xã hội, bắt dân phải gánh nợ chiến tranh. Cuộc khởi nghĩa nổ ra sau nhiều cuộc biểu tình ôn hòa bị quân đội đàn áp bằng súng đạn. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp sau 3 năm.

Năm 1799 - 1800, để trang trải chi phí cho cuộc hải chiến Quasi chống Pháp, chính phủ Mỹ đánh thuế nặng nề bất động sản. Cộng đồng người Mỹ gốc Hà Lan nổi dậy chống cự, hình thành cuộc nổi dậy Fries. Nhưng cuộc nổi dậy sau đó bị dẹp.

Ngoài ra còn nhiều cuộc nổi dậy khác nhưng chỉ mang tính tự phát, cô lập với quy mô nhỏ. Nói chung, từ năm 1776 đến năm 1973, quân đội Hoa Kỳ đã trấn áp và đánh dẹp khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống hệ thống nô lệ, sưu cao thuế nặng và bất công giai cấp.

Đánh phá châu Mỹ Latinh

Năm 1916, Mỹ đem quân viễn chinh xâm lược Cộng hòa Dominican và chính thức đô hộ thuộc địa này đến năm 1924 mới dần trao quyền lại cho người bản xứ quản lý. Năm 1965, Mỹ đưa quân vào tấn công Đảng Cách Mạng Dominican và Đảng Cách Mạng 14 tháng 6 khi hai đảng cánh tả này đang tổ chức biểu tình chống chính quyền quân sự thân Mỹ.

Năm 1983, Mỹ đem quân xâm lược đảo quốc Grenada, tiêu diệt Chính phủ Nhân dân Cách mạng Grenada. Cuối năm 1989, Mỹ đem 2 vạn quân tấn công Panama, giải tán Lực lượng Vũ trang Công lập Panama.

Trên 20.000 người dân bị mất nhà ở Panama. Khủng hoảng kéo dài hơn 2 tuần.

Năm 1991, trong bối cảnh Haiti đang là một chư hầu (nước nhỏ thần phục nước lớn) của Mỹ dưới sự cai trị của tổng thống độc tài thân Mỹ Jean-Bertrand Aristide (từng nhiều lần cho cảnh sát tấn công đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa của các phe đối lập), tướng Raoul Cédras là tổng tư lệnh, tổng chỉ huy quân đội Haiti, đã dẫn quân làm đảo chính lật đổ Aristide và thiết lập một chính quyền quân sự. Dưới sự can thiệp ngoại giao của Mỹ, Aristide thoát án tử hình và sống lưu vong. Năm 1994, Mỹ lấy danh nghĩa bảo vệ dân chủ, "phù Aristide diệt Cédras" đem quân xâm lược Haiti, đưa Aristide về cầm quyền.

Từ đó, ngành du lịch, nông nghiệp và các tài nguyên chủ chốt như điện và nước ở Haiti đều do các tập đoàn người Mỹ nắm giữ, đến nay Haiti là nước nghèo nhất và có mức sống thấp nhất châu Mỹ, đối diện thường trực với nạn đói, thất nghiệp, tham nhũng và kém minh bạch (nhất là các hồ sơ lao động). Tăng trưởng kinh tế cao nhất mà Haiti đạt được từ ngày bị Mỹ xâm lược là 1,8% năm 2006. Hiện nay Haiti đang bị tăng trưởng âm.

Xâm lấn Mexico

Sau cuộc chiến Hoa Kỳ - Mexico (1846-1848), Mexico thua, buộc phải ký hòa ước bất bình đẳng Guadalupe Hidalgo, chấp nhận nhiều điều khoản bất bình đẳng và "trao trả độc lập" cho Texas. Nhưng sau đó Texas được sát nhập vào Hoa Kỳ. Mexico mất Texas vào tay Mỹ.

Mỹ còn gây áp lực ép Mexico phải bán vùng đất Mexican Cession (ngày nay là vùng tây nam Hoa Kỳ) trù phú cho Mỹ với giá 15 triệu USD. Mỹ cũng tỏ thái độ "tốt bụng" và "xóa nợ" 3 triệu USD trong số tiền mà Mỹ đòi hỏi Mexico "bồi thường" chiến tranh và cáo buộc rằng Mexico "nợ" họ tiền chi phí chiến tranh.

Năm 1853, Mỹ lại ép Mexico bán rẻ lãnh thổ ở một vùng đất tiềm năng giáp ranh biên giới Hoa Kỳ - Mexico, với giá 10 triệu USD. Vùng này ngày nay là phía nam Arizona và tây nam New Mexico. Mỹ cần khu vực này để làm một dự án đường rầy xe lửa. Về sau, Mỹ phát triển và hợp nhất những vùng đã "mua" được này và hình thành hai tiểu bang Arizona và New Mexico.

Từ năm 1873 đến 1896, lính Mỹ thường xuyên vượt biên giới Mexico, xâm thực, lấn đất, phá hoại, cướp gia súc và của cải. Năm 1876, Mỹ chiếm giữ thị trấn Matamoros của Mexico.

Năm 1905, sau thỏa ước Banco, Mỹ có thêm 2 vùng đất từ Mexico ở sông Colorado giáp ranh Arizona, tổng cộng 842,4 mẫu Anh (3,409 km2). Về sau, Mexico nhượng tiếp 3 hòn đảo và 68 khu đất cho Mỹ, tổng cộng 1.275,9 mẫu Anh (5.163 km2).

Năm 1963, Mỹ và Mexico ký hòa ước Chamizal, kết thúc gần 100 năm tranh chấp đất đai giữa hai nước ở vùng nay là El Paso, Texas. Hiệp định này còn sát nhập 264 mẫu Anh (1,07km2) vào nước Mỹ.

Năm 1970, Mexico phải ký với Mỹ hiệp định biên giới sát nhập 823 mẫu Anh (3,33 km2) đất, thuộc vùng đất màu mỡ Presidio và Hidalgo vào nước Mỹ, với lý do "xây hệ thống chống bão lụt". Năm 2009, Mexico nhượng 3 hòn đảo có tiềm năng du lịch và 2 khu vực màu mỡ khác cho Mỹ, tổng cộng 63,53 mẫu Anh (0,2571 km2).

Trong vài hiệp định, Mỹ có "bù đắp" lại cho Mexico một số vùng đất nhưng đều là những vùng đất khô cằn, kém tài nguyên, không thể trồng trọt, chăn nuôi. Ngược lại, những vùng mà Mỹ được từ Mexico phần lớn là những vùng đất khá màu mỡ, có tài nguyên tốt hơn.

Trận Churubusco trong cuộc chiến tranh xâm lược Mexico của Mỹ năm 1846. Quân đội Mexico đã bị quân đội Mỹ đánh tan trong trận này.


Tham gia xâm lược Trung Quốc

Trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần II (1856-1860), đế quốc Mỹ đã hỗ trợ và viện trợ cho thực dân Anh - Pháp xâm lược Trung Quốc, giao tranh với quân đội nhà Thanh. Hải quân Mỹ, dưới sự chỉ huy của 2 tướng Andrew Hull Foote và James Armstrong đã đánh chìm và đánh bại thủy binh nhà Thanh trong trận sông Châu Giang (Quảng Châu).

Tàu chiến USS Portsmouth của hải quân Hoa Kỳ tham chiến trong Chiến tranh Nha phiến và trận Châu Giang


Năm 1898, trong chiến tranh xâm lược Philippines, Mỹ còn gởi khoảng 6 vạn quân từ Philippines sang Trung Quốc tham gia Bát quốc liên quân (Liên quân tám nước: Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, đế quốc Áo-Hung), dưới sự thống lĩnh của tướng Adna Chaffee, xâm lược Trung Quốc, đánh bại quân nhà Thanh và lực lượng Nghĩa Hòa Đoàn.

Sau khi Bắc Kinh thất thủ, triều Thanh bị ép phải ký hiệp định bất bình đẳng, cắt đất cầu hòa và chịu nhượng bộ nhiều điều khoản bất bình đẳng khác. Các khu tô giới người Mỹ và khu vực đặc quyền của Mỹ được thành lập ở Trung Quốc và các vùng lãnh thổ thuộc nước này.

Một nhóm lính Mỹ dưới chân Vạn Lý Trường Thành năm 1898


Xâm chiếm Philippines

Cuộc chiến tranh giành thuộc địa giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ bùng nổ vào năm 1898, sau cuộc chiến, Hoa Kỳ giành được Philippines và đảo Guam từ tay Tây Ban Nha, đồng thời xâm lược vịnh Guantanamo của Cuba, lúc này đang là thuộc địa của Tây Ban Nha, và giữ đến nay. Cùng năm, Mỹ tấn công vào Puerto Rico, 15 ngàn quân Mỹ đánh bại 8 ngàn quân Tây Ban Nha và 10 ngàn ngụy quân bản xứ, xâm chiếm Puerto Rico từ tay Tây Ban Nha và giữ đến nay. Sau khi giành 4 thuộc địa về tay, Mỹ trả lại cho Tây Ban Nha 20 triệu USD "tiền an ủi".

Tại Philippines, sau khi Tây Ban Nha bị Mỹ đá văng, Đệ nhất Cộng hòa Philippines được người Phi thành lập để chống Mỹ và giành độc lập, nhưng ngay lập tức Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược. Cuộc chiến giữa quân Mỹ và quân dân Philippines kéo dài 3 năm. Kết quả Mỹ chiến thắng tuyệt đối, Cộng hòa Philippines bị Mỹ giải thể, Philippines trở thành thuộc địa của Mỹ.

Năm 1946, trước áp lực và thắng lợi liên tiếp của phong trào cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc và giải phóng thuộc địa trên toàn cầu, Mỹ buộc phải nhượng bộ và tuyên bố trao trả độc lập cho Philippines trên danh nghĩa, sau gần nửa thế kỷ đô hộ Philippines theo kiểu thực dân, thuộc địa cổ điển. Đảo Guam và Puerto Rico vẫn là hai lãnh thổ phi chính thức của Mỹ.

Quân địa phương Manila của Philippines công kích một đồn quân sự Hoa Kỳ trong trận Tondo Fire.


Xâm lược Bắc Triều Tiên

Năm 1950, đại quân CHDCND Triều Tiên do nguyên soái Kim Nhật Thành đích thân chỉ huy đã vượt vĩ tuyến 38 tấn công tổng lực xuống Hàn Quốc, tốc chiến tốc thắng tiến thẳng về thủ đô Hán Thành truy đuổi Lý Thừa Vãn. Lý Thừa Vãn bị thua, lâm nguy đành khẩn cấp cầu viện Mỹ. Chính phủ Mỹ lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc, cử danh tướng Douglas MacArthur - người hùng của Thế chiến II - làm tổng chỉ huy, các tướng Matthew Ridgway, Mark Wayne Clark phụ tá, sang Hàn Quốc cứu nguy Lý Thừa Vãn.

MacArthur dùng kỳ binh làm một cuộc đột kích vào khu vực Nhân Xuyên, cắt đôi quân đội Triều Tiên, làm họ đầu đuôi không thể cứu ứng nhau. Sau đó đánh bại gần 30 vạn quân Triều Tiên. Nhân cơ hội quân Triều Tiên bị vỡ trận, hỗn loạn và không còn khả năng chống cự, gần 30 vạn liên quân 16 nước đứng đầu bởi Mỹ - Anh vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Bắc Triều Tiên, tiến về thủ đô Bình Nhưỡng truy bắt Kim Nhật Thành và gia đình. Kim và các nhân sự cao cấp của CHDCND Triều Tiên đành đào vong sang Mãn Châu, Trung Quốc và cầu viện khẩn cấp.

Trước tình hình Mỹ - Anh đã đến sát sườn và MacArthur liên tục hạ lệnh cho ném bom và pháo kích sang phía Trung Quốc để phá hủy các căn cứ quân sự biên phòng của Trung Quốc. Mao Trạch Đông phái danh tướng Bành Đức Hoài - người hùng của nội chiến Trung Quốc và chiến tranh chống Nhật - làm tổng chỉ huy, hai tướng Đặng Hoa, Dương Đắc Chí làm phụ tá, đem hơn 100 vạn quân vượt sông Áp Lục sang Triều Tiên cứu Kim Nhật Thành.

Chỉ trong vòng một thời gian rất hạn hẹp mà Bành Đức Hoài tập kết siêu tốc được nhiều quân như vậy, đó được coi là một kỳ tích khó hiểu mà đến ngày nay với khoa học kỹ thuật tiên tiến, phương tiện chuyên chở tốc độ cao cũng vẫn khó thực hiện. Điều bất ngờ đó đã làm Mỹ và liên quân bị choáng váng trong thời gian đầu, vì đến MacArthur trước đó cũng không ngờ một cuộc tập trung quân đội siêu tốc như vậy lại khả thi. Phía Mỹ và Liên Hiệp Quốc không ngờ Trung Quốc có thể xuất quân và sang đánh nhanh như vậy.

Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Sau cuộc chiến, Mỹ - Anh chiếm được vài khu vực trước cuộc chiến thuộc về CHDCND Triều Tiên. Sau đó họ giao lại cho Hàn Quốc quản lý.

Vùng kiểm soát thay đổi trong cuộc chiến. Màu hồng tượng trưng cho quân đội Trung Quốc và Triều Tiên. Màu xanh lá cây tượng trưng cho liên quân Liên Hiệp Quốc.

Xâm lược Việt Nam, chiếm đóng miền Nam, tấn công miền Bắc

Cũng năm 1950, Mỹ dù đang bận rộn trên bán đảo Triều Tiên nhưng vẫn không quên các lợi ích của bán đảo Đông Dương. Họ bắt đầu đứng sau ủng hộ và giúp đỡ Pháp xâm lược tái chiếm Việt Nam. Năm 1954, Mỹ từng bước hất cẳng và thay chân Pháp, mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn miền Nam, tấn công những vùng giải phóng, thiết lập hệ thống thuộc địa kiểu mới trong những vùng tạm chiếm.

Từ đó, những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam có khoảng 6 triệu người Mỹ đi khắp nơi sinh hoạt như là nhà của họ, trong đó có gần 60 vạn quân Mỹ tàn phá, bắn giết, hãm hiếp, tàn sát khắp nơi. Gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, khiến sau này hình thành một diện xuất cảnh chưa từng có trên thế giới là "diện con lai".

Chiến tranh kéo dài đến năm 1975. Sáng ngày 30/4/1975, 10 người lính Thủy quân Lục chiến cuối cùng của Mỹ lên trực thăng rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, chiến tranh kết thúc. Đây là lần duy nhất trong lịch sử mà người Mỹ đã thua cuộc và thật sự trắng tay trong một cuộc chiến.

Người dân Sài Gòn ăn mừng ngày toàn thắng lịch sử 30/4/1975


Cướp phá Trung Đông và châu Phi

Năm 1801, Mỹ đem quân tấn công và cướp bóc ở vùng tam giác Bắc Phi, đánh nhau với đế chế Ottoman và vương quốc Tripoli, vùng đất của Libya ngày nay. Đến năm 1805, quân đội Mỹ đánh bại Ottoman và Tripoli, cướp đoạt tài nguyên và tài sản, ép bên kia ký hòa ước bất bình đẳng. Đồng thời họ tiện tay đánh phá Maghreb (Maroc, Algérie và Tunisia ngày nay - vùng Tây Bắc châu Phi).

Năm 2001, Mỹ cầm đầu liên quân năm nước và Liên minh phương Bắc (một thế lực lâu nay đối đầu với Taliban) công kích thẳng vào Afghanistan, đánh bại quân đội Taliban và lực lượng Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda của thủ lĩnh Osama bin Laden, "bảo hộ" Afghanistan. Taliban và Al-Qaeda rút vào rừng núi Afghanistan tiếp tục cầm cự.

Năm 2003, Mỹ tiến hành chiến dịch "Iraq Tự do", với lý do "Saddam Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt", cầm đầu liên quân năm nước, đem gần 15 vạn quân, dưới sự chỉ huy của tướng Tommy Franks tiến công thẳng vào Iraq và tốc chiến tốc thắng tiến về thủ đô Baghdad lật đổ chính quyền Iraq và treo cổ tổng thống Saddam Hussein. Sau cuộc chiến, các nhà báo phóng viên quốc tế đổ xô vào Iraq để làm phóng sự về "vũ khí hủy diệt hàng loạt" nhưng không ai tìm thấy. Đại quân Mỹ tiếp tục chiếm đóng tại đây đến năm 2011.

Năm 2011, Mỹ và NATO đứng sau hậu thuẫn phiến quân ở Libya, bao gồm cả các tổ chức vũ trang Hồi giáo cực đoan, trong đó có tổ chức khủng bố quốc tế Al-Qaeda.

Ngày 19/3/2011, Mỹ mở chiến dịch Phiêu lưu Rạng đông (Odyssey Dawn), đem các lực lượng không quân, hải quân, thủy quân lục chiến và đội ngũ CIA cùng với các vũ khí hạng nặng tối tân (đặc biệt là các máy bay không người lái) tiến vào lãnh thổ Libya. Quân đội Mỹ đặt dưới sự chỉ huy của tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Phi, tướng Carter Ham, tướng tư lệnh liên quân Samuel Locklear, tướng chỉ huy đặc nhiệm Harry Harris, và tướng Margaret Woodward.

Ngày 31/3/2011, Mỹ trao lại quyền điều khiển, chỉ đạo chiến dịch cho NATO với tên gọi mới là chiến dịch "Bảo vệ Thống nhất". Trong các chiến dịch này, Mỹ và NATO đã không kích tan hoang Libya, dội bom vào một số khu vực dân sự, làm chết nhiều dân thường và không yểm cho lực lượng phiến quân Libya. Cuộc chiến kết thúc với sự chiến thắng của Mỹ, NATO và phiến quân, sự sụp đổ của chế độ Libya, và cái chết của lãnh tụ, đại tá Gaddafi.

Sau cuộc chiến, Libya từ một trong những nước có kinh tế và mức sống cao nhất châu Phi, điện, y tế và giáo dục miễn phí, giá xăng rẻ, mua xe được trợ cấp 50% giá, không nợ xấu v.v. đã trở thành một nước tan hoang hoàn toàn, bắn giết liên miên giữa các phe phái, nhiều khu vực trở thành vùng ly khai, tự trị, tự quản, đa phần dùng danh nghĩa trung thành với lãnh tụ Gaddafi để chiến đấu.

Hai kế hoạch đầy triển vọng của Gaddafi là làm hệ thống dẫn nước khổng lồ, lớn nhất thế giới để cung cấp nước cho toàn bộ nông thôn Libya và cải cách hệ thống tiền tệ để thay thế đồng đô la Mỹ, không còn phải lệ thuộc vào đồng USD nữa, đã hoàn toàn tiêu tan theo khói lửa chiến tranh. Các tài sản, tiền bạc, ngoại tệ, bao gồm cả USD của Libya là tiền đóng thuế từ mồ hôi lao động của nhân dân Libya và tiền họ có được từ sự bán dầu, bán tài nguyên, bán sức lao động, đã bị Mỹ và phương Tây gọi đó là "tiền riêng của cá nhân Gaddafi ăn cướp dân lành" rồi phong tỏa, chia nhau các chiến lợi phẩm.

Xâm lược và chia cắt Samoa

Từ năm 1886 đến 1894, liên quân ba nước Mỹ, Anh, Đức xâm lược vương quốc Samoa và thực dân hóa quần đảo Samoan (bao gồm 17 đảo), nô lệ hóa dân tộc Samoa. Sau đó ba nước quay sang tranh nhau, dùng cả lính đánh thuê bản địa giao chiến với nhau, các phe đảng bản xứ thân Mỹ, thân Anh, thân Đức giao tranh với nhau.

Kết quả là sau hiệp định Berlin 1899, nhà nước Samoa bị xóa sổ, Samoa bị chia đôi thành Đông Samoa và Tây Samoa. Mỹ chiếm Tây Samoa, hình thành American Samoa (Samoa thuộc Mỹ). Đức và Anh chia nhau Đông Samoa, sau đó Đức hất cẳng Anh và chiếm toàn bộ Đông Samoa, hình thành German Samoa (Samoa thuộc Đức). Trong Thế chiến I, lợi dụng sự thất thế của đế chế Đức, hải quân New Zealand, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ và Úc, tiến chiếm Đông Samoa từ tay người Đức.

Các tàu chiến của Mỹ, Anh, Đức ở cảng Apia, Samoa, 1899.


Các hành động, chiến dịch khác ở hải ngoại

Năm 1798 - 1800, cuộc hải chiến Quasi xảy ra, đó là một cuộc chiến tranh không tuyên bố với hàng loạt xung đột dai dẳng trên biển giữa hai đế quốc Mỹ và Pháp. Kết quả là Mỹ thắng, chiến lợi phẩm là thành phố lớn Puerto Plata của Dominican, lúc đó đang là thuộc địa của Pháp.

Năm 1867, Mỹ mua lại thuộc địa Alaska từ đế chế Nga. Alaska trở thành thuộc địa của Mỹ, đến năm 1959 mới chính thức thành một tiểu bang gia nhập liên bang Hoa Kỳ.

Trong Thế chiến I, Mỹ thừa cơ chiếm quần đảo Virgin từ tay Đan Mạch trong một chiến dịch công kích chớp nhoáng, biến thành sự đã rồi. Sau đó ký hiệp định với Đan Mạch để hợp thức hóa sự kiểm soát, chiếm đóng của Mỹ trên quần đảo này. Quần đảo Virgin vốn từ lâu là lãnh thổ nằm dưới quyền quản lý của ba bộ tộc Ciboneys, Arawaks, Caribs, sau đó bị các nước thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ. Sau thời gian dài tranh nhau và thỏa hiệp, quần đảo này trở thành thuộc địa của Đan Mạch, cho tới khi bị Hoa Kỳ giành lấy.

Năm 1947, nằm trong sự phân chia lại lợi ích thuộc địa sau Thế chiến II, Liên Hiệp Quốc, dưới sức ép của Mỹ, giao lại cho Mỹ quần đảo Marshall, liên bang Micronesia, quần đảo Bắc Mariana và Palau.

Năm 1999, Mỹ và NATO cầm đầu liên quân mười ba nước, mở cuộc không kích 78 ngày đêm vào Cộng hòa Liên bang Nam Tư. Sau cuộc chiến tranh Kosovo, Mỹ và NATO càng củng cố chắc chắn hơn sự tan rã và chia cắt của Cộng hòa Nam Tư.

 
oOo

Trong các cuộc chiến bành trướng gần đây của Mỹ, có thể nói quân đội, nhân dân và đất nước Mỹ trắng tay, nhưng chính phủ Mỹ, các thế lực tư bản tài phiệt và lái buôn chiến tranh của Mỹ thì không hề tay trắng. Họ đã thành công duy trì được nguồn cầu vũ khí (trước mắt là các thế lực vũ trang mới nổi, đang đánh nhau liên miên ở các nước đã bị Mỹ đánh vào như Iraq, Aghanistan, Libya....). Mỹ tiếp tục là nguồn cung vũ khí lớn nhất và đắt hàng nhất thế giới.

Về chính trị và quân sự, họ kiểm soát, khống chế được hai đầu Trung Đông, mượn Iraq chỉa súng thẳng vào Iran, tăng cường sức mạnh cho đàn em thân tín Israel. Về kinh tế và tài nguyên, họ nắm được hai nguồn dầu lớn ở Iraq và Libya, các mỏ kim loại, vàng, kim cương, đá quý, khoáng sản, và nguồn nước ngọt dồi dào ở Libya, nguồn ma túy lớn ở Aghanistan vốn lâu nay do Taliban kiểm soát. Đồng thời họ cũng kiểm soát được hệ thống tiền tệ, tài chính ở Libya, đoạn tuyệt nguy cơ đồng USD bị Gaddafi gây hại, thay thế. Như vậy, các thế lực tư bản lớn ở Mỹ như FED, tài phiệt Phố Wall và tài phiệt lái buôn chiến tranh của các tập đoàn sản xuất, phân phối vũ khí đều có lợi.

Xem lại lịch sử thì có thể thấy từ thế kỷ 15 đến nay, quá trình bành trướng lan tỏa thực dân hóa trên phạm vi toàn cầu vẫn tiếp diễn bằng hình thức này hay hình thức khác. Bình mới nhưng rượu vẫn cũ. Từ chủ nghĩa thực dân cổ điển chuyển sang chủ nghĩa thực dân mới. Khác chăng là ở hình thức xâm lược, danh nghĩa chính trị, thủ đoạn ngụy trang, mức độ can thiệp và mức độ trục lợi.

Một điểm đáng chú ý nữa là họ hầu như luôn luôn đi "xâm lược nhóm", đi đánh các nước khác theo nhóm. Từ các cuộc gây chiến tranh thôn tính châu Mỹ (các đế quốc thực dân liên kết với nhau cùng đánh, hoặc chiêu dụ các lực lượng bản xứ nhỏ cùng theo họ đánh một lực lượng bản xứ lớn), đến Bát quốc đuổi Từ Hy ở Trung Quốc, đến liên minh các nước từ các cuộc chiến lặp đi lặp lại gần đây với mọi "lý do chính đáng". Mỹ và phương Tây gần như chưa bao giờ đánh ai một mình trong các chiến dịch xâm lược lớn.

Lịch sử cận đại và hiện đại ở nước ta cũng vậy, tất cả các cuộc chiến chống Mỹ và phương Tây xâm lược từ năm 1858 đến 1975 đều như vậy. Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng và mở đầu cuộc xâm lược lâu dài Việt Nam. Năm 1946, Pháp theo chân Anh quay lại Việt Nam. Năm 1950, Mỹ bắt đầu tăng cường hỗ trợ và viện trợ cho Pháp xâm lược tái chiếm Đông Dương. Sau đó, Mỹ thay chân Pháp, kéo vào Việt Nam các đồng minh, chư hầu.

Nhiều người ví von hiện tượng trên với hình tượng "cướp bầy", như sư tử hay loài sói luôn đi săn mồi cả bầy, và sau đó chia nhau con mồi, chia nhau chiến lợi phẩm. Bản chất của việc xâm lược theo nhóm cũng có cùng một đạo lý đó, thực chất là sự chia chác lợi ích ở các nơi bị đánh.

Tất cả đều xuất phát từ lợi ích, có lợi ích ngắn hạn, có lợi ích dài hạn, lợi ích địa chính trị, lợi ích địa kinh tế, lợi ích tài nguyên, lợi ích chiến lược toàn cầu v.v., chứ dĩ nhiên nếu không có lợi thì không ai muốn gây chiến tranh làm gì để cho máu đổ đầu rơi, hao binh tổn tướng, tốn tiền tốn của, và còn bị dư luận chống đối, bị biểu tình phản chiến.

Một cuộc chiến tranh xâm lược có thể xảy ra từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa và ý nghĩa thật sự của nó vẫn là sự ăn cướp của nước đi xâm lược đối với nạn nhân bị xâm lược. Dù họ dùng danh nghĩa chính trị gì đi nữa; tôn giáo, ý thức hệ, phản kích tự vệ, trừng phạt, bảo vệ đồng minh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ / đem tới tự do dân chủ, thì bản chất các cuộc chiến tranh đều xuất phát từ sự tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lợi ích. Có thể đó là lợi ích dân tộc, hay lợi ích giai cấp, hay thậm chí là lợi ích phe nhóm, lợi ích cá nhân, hay lợi ích tôn giáo, nhưng nói chung đều xuất phát từ lợi ích. Do đó nếu cho rằng Mỹ và châu Âu là những "hiệp sĩ đi cứu nhân độ thế cho hành tinh này", những "chiến sĩ tự do đi phổ biến dân chủ nhân quyền khắp quả đất này", đi đánh nước này nước kia, đem bom dội lên nước đó là để "giúp đỡ" nước đó, là vì các mục tiêu tốt đẹp, là vì chính dân tộc ở nước đó, thì thật là ngây thơ vậy.

Từ thời lập quốc tới năm 1924, quân đội Hoa Kỳ đã trải qua hơn 100 cuộc chiến và hàng vạn trận chiến lớn nhỏ trong quá trình xâm lược, thôn tính, diệt tộc, chiếm đất của các lực lượng bản địa. Các chủng tộc, dân tộc bản xứ trước đó có hàng chục triệu người, sau hơn 100 cuộc chiến chỉ còn lại chừng mấy trăm ngàn người.

Từ thời lập quốc đến năm 1973, quân đội Mỹ đã đàn áp và đánh dẹp khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống chế độ nô lệ, sưu cao thuế nặng, bất công giai cấp.

Từ năm 1835 đến năm 1932, quân đội Mỹ đã tham chiến trong gần 10 cuộc chiến tranh, xung đột quân sự biên giới.

Trong nửa cuối thế kỷ qua, các chính phủ Mỹ và CIA đã nhúng tay giật dây lật đổ gần 50 chính quyền nước khác, phần lớn nguyên thủ quốc gia trong số đó là do dân bầu lên. Trong quá trình đó, các trọng điểm quân sự và dân sự của gần 30 quốc gia đã bị quân đội Mỹ tấn công bằng bộ binh hoặc rải bom, không kích. Trong đó, hơn 10 quốc gia đã bị Mỹ tấn công, can thiệp trực tiếp và toàn diện, chứ không chỉ riêng về quân sự.

Trong bề dày chinh chiến hơn 200 năm đó, quân đội Hoa Kỳ chỉ chịu thất bại duy nhất 1 lần, ở Việt Nam. Tôi nghĩ đó là điều mà chúng ta nên suy ngẫm, rút kinh nghiệm, rút ra những bài học, rút ra những niềm tin chiến thắng và lòng tự tin, tự hào chính đáng để vận dụng nó cho công cuộc tái thiết và kiến thiết đất nước ngày hôm nay.

Thiếu Long

---------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

- James C. Bradford (2003). Atlas of American military history. NXB Đại học Oxford (Anh)
- John Whiteclay Chambers, Fred Anderson (1999). The Oxford companion to American military history. NXB Đại học Oxford (Anh)
- Maurice Matloff (1996). American Military History: 1775-1902. NXB Da Capo
- Maurice Matloff (1996). American Military History: 1902-1996. NXB Da Capo
- Thomas Harry Williams (1960). Americans at War: The Development of the American Military System. NXB Đại học Bang Louisiana
- Jerry K. Sweeney, Kevin B. Byrne (2006). A handbook of American military history. NXB Đại học Nebraska
- Miller, Stuart Creighton (1984), Benevolent Assimilation: The American Conquest of the Philippines, 1899-1903, NXB Đại học Yale
- J. Y. Wong (1998), Deadly Dreams: Opium, Imperialism, and the Arrow War (1856–1860) in China, NXB Đại học Cambridge (Anh)
- Smokey Forester, Jack Leustig, Gregory Harrison, Kevin Costner, Roberta Grossman, Lee Miller, Lisa Sonne, Dyanna Taylor, Debra Spidell, Rick Blue, Edgar Burcksen, Susan Crutcher (1995), phim tài liệu 500 Nations (8 phần), Discovery Channel

- Tài liệu Internet

Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược (phần 1)

Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược
(Kỷ niệm 40 năm đại thắng Điện Biên Phủ trên không)

Thiếu Long

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, cả Việt Nam và thế giới đã chứng kiến kỳ tích thời đại Hồ Chí Minh: Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không". Trong lịch sử chiến tranh giữ nước thời hiện đại, dân tộc Việt Nam luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn, có khoa học kỹ thuật và công nghệ cao hơn, có thế và lực mạnh hơn gấp nhiều lần, và trận quyết chiến Điện Biên Phủ trên không, chống lại chiến dịch Linebacker II của không quân Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ.

Song lực lượng phòng không nhân dân của Việt Nam đã đánh bại chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh điện tử quy mô lớn của Mỹ. Chiến thắng này đã đi vào lịch sử Việt Nam như một "Điện Biên Phủ trên không". Hà Nội sau ngày đó đầy ắp tiếng cười, đã trở thành "Thành phố vì hòa bình" trong lòng bè bạn năm châu.

Từ trước đến nay đa số bạn đọc Việt Nam và quốc tế chỉ biết Điện Biên Phủ trên không như một trận đại thắng chói lọi, một bản hùng ca vang dội của quân dân Hà Nội và miền Bắc Việt Nam, nói lên ý chí quật cường của dân tộc. Còn bản chất chính trị, những vấn đề hậu trường, những nước cờ chính trị đầy bản lĩnh và trí tuệ, ý nghĩa thực chất, tính chất chính trị của nó, những gì phía sau nó thì các tài liệu giáo khoa, các giáo trình lịch sử công khai, các tuyên bố chính thức, các thông cáo báo chí từ cả hai phía Việt - Mỹ và quốc tế đều hiếm khi đề cập tới.

Phần lớn các tài liệu sách báo từ cả hai chiến tuyến đối địch và quốc tế đều chỉ tập trung miêu tả trận đánh và luận về khoa học kỹ thuật, về quân sự. Nghĩa là chỉ thấy phần "quân luận" chứ chưa có nhiều phần "chính luận" về Điện Biên Phủ trên không, và các vấn đề liên quan về cuộc chiến tranh Mỹ - Việt trong giai đoạn này.

Diễn biến chiến dịch và các trận chiến, các chiến thuật quân sự của hai bên đều đã được nhiều nơi ghi chép và phân tích tỉ mỉ, kỹ càng. Do đó người viết không đề cập tới những vấn đề mang tính chuyên môn quân sự đó trong bài tham luận này. Bài viết này chủ yếu phân tích về bản chất và các vấn đề chính trị, những vấn đề liên quan đằng sau và chung quanh Điện Biên Phủ trên không.

Khái quát sơ lược

Ngày 18 tháng 12 năm 1972, quân đội Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch Linebacker II, nhằm tàn phá miền Bắc Việt Nam với trọng tâm chiến lược ở thủ đô Hà Nội. Ý đồ của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ là tấn công dồn dập bằng pháo đài bay chiến lược B-52 thay vì các máy bay ném bom chiến thuật và mục đích là dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Việt Nam.

Chiến dịch này còn được giới dân sự Mỹ gọi là "The December Raids" (Cuộc bắn phá tháng 12) hoặc là "The Christmas Bombings" (Dội bom lễ Giáng sinh), một số người còn ví von gọi là "The nightmare before Christmas" (Cơn ác mộng trước Giáng sinh). Tại Việt Nam, sự kiện này ban đầu được gọi giản dị là "cuộc chiến 12 ngày đêm", ngay sau đó một số báo Pháp đưa tin về việc này, đã ví trận thắng này như trận thắng Điện Biên Phủ ở trên không trung. Từ đó khái niệm "Điện Biên Phủ trên không" được báo chí Việt Nam thấy hay nên sử dụng đến nay.

Ý định của Hoa Kỳ là sử dụng lực lượng không quân chiến lược với B-52 làm nòng cốt ném bom rải thảm để hủy diệt thủ đô của Việt Nam và đưa chiến sự lan ra cả Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác ở Bắc Việt. Tổng thống Nixon của Mỹ tràn đầy tự tin vào sức mạnh không quân vô địch của Mỹ, đã nói: "Chúng ta sẽ đánh bom cho họ về thời kỳ đồ đá" (We're going to bomb them back into the Stone Age). Ông ta còn cao giọng lạc quan, đại ý: Các bạn phi công chỉ cần bay đủ độ cao, hỏa lực địch bắn không tới, các bạn chỉ cần bay thật cao và ấn nút là đủ, đó là tất cả những gì các bạn cần làm, bay cao - bấm nút - rồi về nhà ăn Noel, đây sẽ là một chiến dịch dễ nhất trong binh nghiệp của các bạn.


Máy bay Mỹ bay cả đàn vào không kích miền Bắc Việt Nam

Đây là một cuộc đụng đầu lịch sử giữa một bên là dân tộc Việt Nam ngàn năm văn hiến, một thủ đô Thăng Long - Hà Nội bất khuất, ngạo nghễ, một bên là sức mạnh áp đảo bách chiến bách thắng của lực lượng không quân tinh nhuệ nhất hành tinh và với những máy bay chiến lược hiện đại, tối tân nhất thế giới thời bấy giờ.

Phía Hoa Kỳ do hai tướng John Dale Ryan (Thành viên của Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ - JCS, cố vấn cao cấp của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ và Hội đồng An ninh Quốc gia, lập nhiều chiến công thành tích trong Thế chiến II) và John W. Vogt Jr (nguyên Tư lệnh lực lượng Đồng minh ở mặt trận Trung Âu trong Thế chiến II, Tổng tư lệnh Không quân Hoa Kỳ ở châu Âu) chỉ huy. Phía Việt Nam chủ yếu do ba tướng Văn Tiến Dũng, Phùng Thế Tài, Lê Văn Tri chỉ huy. Hầu hết toàn bộ quân dân Hà Nội và nhiều tỉnh thành miền Bắc đều tham chiến, trong đó một bộ phận không nhỏ nữ binh và lão binh (bạch đầu quân - lính đầu bạc).

Không chỉ có miền Bắc chống lại chiến dịch Linebacker II của Mỹ, mà đồng bào miền Nam cũng góp sức chống lại chiến dịch này bằng những trận đánh để "rửa hận cho miền Bắc". Ngay từ những ngày đầu đế quốc Mỹ đánh bom miền Bắc, đông đảo cán bộ đảng viên và quân dân miền Nam đều cảm thấy khó chịu, trăn trở, phê bình nhau: "Tại sao giặc Mỹ hỗn láo đánh miền Bắc mà ta trừng trị kém như vậy?"

Nhưng do thực lực của quân kháng chiến miền Nam lúc đó vẫn đang trong quá trình phục hồi, xây dựng, hoàn thiện lại kể từ chiến dịch Mậu Thân, không còn mạnh như trước Mậu Thân 1968, và lục quân Mỹ vẫn còn đầy đủ ở đây, nên miền Nam lúc đó không dễ mở những chiến dịch quân sự lớn, mà chủ yếu đánh du kích. Tuy nhiên, các lực lượng biệt động, dân quân - tự vệ Sài Gòn đã có những trận đánh vào Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, một số nơi có Mỹ-ngụy ở Sài Gòn, để phục thù cho đồng bào miền Bắc.

Trong 12 ngày đêm xâm lược không phận và tung hoành trên vùng trời Hà Nội, lực lượng không quân thiện chiến của Mỹ đã ném xuống hơn 36.000 tấn bom. Không quân Mỹ đã được lệnh dội bom vào các khu vực dân sự; nhà cửa, bệnh viện, nhà máy, trường học, nhà thờ, chùa chiền v.v. để khủng bố tinh thần Việt Nam. Những đợt tấn công này đã gây thương vong cho hàng chục ngàn dân lành, phá hủy hoàn toàn hàng ngàn nhà dân và hàng trăm trường học, bệnh viện, rạp hát, chùa miếu, nhà thờ, đền thờ, di tích lịch sử.... Tại Hà Nội, khu phố Khâm Thiên hoang tàn nhất, bị phá hủy hoàn toàn.

100% số nhà máy điện bị đánh phá, 1.500/1.600 công trình thủy lợi và gần 100 km đê xung yếu bị hư hại; Hầu hết cầu cống quan trọng và toàn bộ 6 tuyến đường sắt đều bị đánh hỏng; 3/6 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên) và 23/30 thị xã, 96/116 thị trấn, 3.987/5.788 xã, 350 bệnh viện, gần 1.500 bệnh xá, 1.300 trường học bị tàn phá nặng nề; trong đó có 12 thị xã, hơn 300 xã, 10 bệnh viện, 11 ga xe lửa đầu mối bị hủy diệt hoàn toàn.


Bệnh viện Bạch Mai bị phá hủy. Về sau trong sân bệnh viện có tấm bia mang chữ "Căm thù" để tưởng nhớ về sự kiện bi thương này và ghi nhớ tội ác chiến tranh xâm lược.


"Mai trắng hồi sinh", bệnh viện Bạch Mai ngày nay.

B-52 lợi hại ra sao?

B-52 có tên giao dịch là Boeing B-52 Stratofortress (Pháo đài chiến lược) là máy bay ném bom chiến lược phản lực được không quân Hoa Kỳ sử dụng từ Thế chiến 2. Do giá thành tốn kém (53,4 triệu USD mỗi chiếc) và số lượng khiêm tốn (lịch sử Mỹ tới nay chỉ có 744 chiếc được sản xuất), nên nó chỉ được dùng để thả các vũ khí quy ước trong các cuộc chiến tranh thực tế. Máy bay này là chiếc máy bay ném bom có tầm bay xa không cần tiếp nhiên liệu dài nhất, và mang được đến 27 tấn vũ khí.

Với tầm bay cao, được bảo vệ bởi nhiều máy bay tiêm kích và hệ thống gây nhiễu điện tử hiện đại, có thể nói B-52 là một pháo đài bay không thể bị bắn trúng. Đặc biệt, nhiễu điện tử của không quân Mỹ như một bức màn chắn đã gây khó khăn lớn cho bộ đội phòng không. Như vậy, không quân Mỹ với "bửu bối" B-52 là một lực lượng vô địch thế giới và bất khả chiến bại trong thời điểm đó. Và chúng đua nhau bay "cả đàn" vào Hà Nội để thực hiện cuộc chiến tranh điện tử hủy diệt tàn bạo, muốn phá hủy thủ đô của nước Việt Nam thành bình địa, "đưa Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá".



Dự thảo và sách đỏ về cách đánh B-52

Trong chiến dịch Linebacker II, hãng thông tấn Associate Press (Mỹ) đã bình luận một cách đầy lo lắng: "Cứ theo tốc độ bị bắn rơi như thế này thì chỉ sau ba tháng, B-52 sẽ tuyệt chủng." và "Những thất bại trên là do lực lượng phòng không của Việt Nam đã biết khai thác triệt để các kẽ hở rất mờ nhạt trong hệ thống phòng thủ của B-52. Ngược lại, việc triển khai ồ ạt B-52 trong khoảng thời gian ngắn không cho phép chúng ta khắc phục những điểm yếu, dẫn đến B-52 bị các tên lửa đất đối không của Việt Nam tiêu diệt.".

Đây là thất bại nặng nề và duy nhất của loại máy bay này trên chiến trường, dẫn đến việc thay đổi hoàn toàn chiến lược sử dụng B-52 trong các giai đoạn sau và chiến lược phát triển không quân nói riêng, và quân sự nói chung của Hoa Kỳ về sau này.


Ba chiếc B-52B thuộc Không đoàn Ném bom 93 chuẩn bị cất cánh khỏi Căn cứ Không quân Castle, California, trong chuyến bay phá kỷ lục vòng quanh thế giới năm 1957.


B-52 đang rải bom

Sau chiến tranh xâm lược Việt Nam, phía Mỹ trang bị lại cho loại máy bay này, các máy bay B-52 được trang bị tên lửa hành trình và sẽ phóng tên lửa từ xa thậm chí không cần bay vào vùng trời mục tiêu. Tuy nhiên, hiệu ứng tâm lý gây choáng khi bị ném bom rải thảm đã bị quân dân Hà Nội đập tan, đã tan theo từng đợt B-52 rơi rụng. B-52 một thời được xem là niềm tự hào của người Mỹ và quân đội Mỹ. Tuy nhiên đối với nhân dân Việt Nam, đặc biệt là người dân Hà Nội, thì B-52 là một biểu tượng của tội ác.


Phóng viên TTX Việt Nam ghi lại những hình ảnh của cuộc chiến 12 ngày đêm.

Mối hận Khâm Thiên

Trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội đêm 26 tháng 12 năm 1972 đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em; làm cho 178 cháu mồ côi trong đó có 66 cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà, trường học, đền chùa, rạp hát, trạm xá bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn. Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chỉ còn là một hố bom, 7 người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót.

Mảnh đất này trở thành một đài tưởng niệm với một tấm bia mang dòng chữ "Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ" và một bức tượng bằng đồng tạc hình một người mẹ bế trên tay đứa con đã chết vì bom Mỹ, tượng được lấy nguyên mẫu từ chính chủ nhân của ngôi nhà bị hủy diệt này. Kể từ sau trận bom ấy, hàng năm, đến những ngày kỷ niệm trận bom, người dân trên phố, và nhiều nơi khác tới đây thắp hương tưởng niệm những người đã chết vì bom Mỹ.



Một góc phố Khâm Thiên sau trận ném bom của B-52 đêm 26 tháng 12 năm 1972



Khâm Thiên sống lại. Khu phố Khâm Thiên ngày nay.

Dư luận thế giới nghĩ gì?

Chiến dịch ném bom vô nhân đạo của Hoa Kỳ đã bị phản đối vô cùng quyết liệt khắp thế giới, kể cả những nước đồng minh lâu năm, thân cận của Hoa Kỳ, dư luận nhiều nước gây áp lực để chính phủ của mình chính thức lên án cuộc ném bom. Báo Le Monde (Paris, Pháp) so sánh cuộc ném bom này với cuộc ném bom hủy diệt Guernica do Đức Quốc Xã thực hiện ở Tây Ban Nha. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror, bình luận: "Việc Hoa Kỳ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ".

Các chính phủ Anh, Ireland, Ý và Thụy Điển đều lên tiếng. Một trong những phản ứng dữ dội nhất là của thủ tướng Thụy Điển Olof Palme, ông đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống loài người trên quy mô ngang với các tội ác diệt chủng của phát xít Đức tại trại tập trung Treblinka. Ông còn đích thân đến một cửa hàng tổng hợp để thu thập chữ ký cho một kiến nghị toàn quốc đòi chấm dứt ném bom, để gởi tới Nixon.


Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme dẫn đầu đoàn biểu tình đòi Mỹ chấm dứt ném bom Việt Nam.

Tại Mỹ, Nixon bị chỉ trích là "người đánh mất kiểm soát" (madman). Nhiều thành phần diều hâu từng ủng hộ cuộc ném bom trong chiến dịch Linebacker I hồi tháng 5 nay chất vấn cả sự cần thiết và tính tàn bạo nghịch thường của Linebacker II.

Năm 1972 không chỉ có một cuộc chiến ở Việt Nam, mà còn có những "cuộc chiến trong cuộc chiến". Có "cuộc chiến trong lòng nước Mỹ", có "cuộc chiến trong lòng quân đội Mỹ", bao nhiêu người đã đào ngũ, trốn quân dịch, bắn giết nhau, lính bắn chết sĩ quan chỉ huy rồi bỏ trốn. Cuối năm đó còn có thêm "cuộc chiến trong lòng không quân Mỹ". Trong chiến dịch Linebacker II, 16 phi công đã gởi đơn khiếu nại lên Bộ chỉ huy xin không bay; 45 gia đình gởi thơ chất vấn về trạng thái tinh thần phi công. Nhiều nơi đã xảy ra binh biến, nổi loạn.


Bất chấp những cuộc trấn áp (xả súng, thảm sát) tại đại học Kent và các thành phố ở California trước đó, nhân dân và sinh viên Mỹ vẫn xuống đường biểu tình đòi chính phủ chấp nhận ký vào hiệp định Paris.

Sau này, ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger thừa nhận: "Các thế hệ tương lai có thể khó hình dung được cơn biến động trong nước mà chiến tranh Việt Nam gây ra.... Chính cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng. Cuối cùng, con em của họ và con em bạn bè của họ đã tham gia các cuộc biểu tình.... Sự kiệt sức là dấu ấn của tất cả chúng tôi. Tôi phải đi từ nhà tôi, vây quanh là đám người phản đối, đến tầng dưới của Nhà Trắng để được ngủ đôi chút".

Đại tá quân đội Liên Xô Markov Lev Nicolayevich đã nhận xét về những trận đại chiến trên bầu trời Hà Nội như thế này: "Tôi đã nghiên cứu kỹ chiến lược chiến tranh của nhiều nước và thấy rằng, trên thế giới ít có cuộc chiến nào mà bên phòng vệ thắng bên tấn công, nhất là khi có sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực quân sự, vũ khí trang bị như giữa quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ, đặc biệt là “siêu pháo đài bay B-52”, mà người Mỹ khoe là không thể bị bắn hạ! Vậy mà Việt Nam đã đánh thắng rất giòn giã. Đó thực sự là cuộc chiến tranh của trí tuệ với trí tuệ, thông minh “chọi” thông minh, chứ không phải là cuộc chiến tranh thông thường!".

Ai thắng?

Sau trận đêm 26 tháng 12, số phận của chiến dịch Linebacker II đã được định đoạt, cường độ tập kích của B-52 giảm hẳn, B-52 dạt ra ngoại vi đánh Thái Nguyên và các mục tiêu hạng hai để tránh "tọa độ lửa" Hà Nội, Hải Phòng.... Tổng thống Nixon ra tín hiệu đề nghị nối lại đàm phán và ngày 30 tháng 12 đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch ném bom, quay lại đàm phán tại Paris và chấp nhận phương án cũ của hiệp định Paris mà phía Mỹ trước đó đã từ chối ký kết.

Sau trận này, khí thế của quân dân Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc dâng lên rất cao. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới đánh bại được "thần tượng B-52". Và sau năm 1975 đến nay, với khoa học kỹ thuật công nghệ quân sự thế giới tiên tiến hơn, cũng vẫn chỉ có 1 máy bay B-52 bị bắn hạ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991.


Xác chiếc B-52D số hiệu 56-0605, mật danh Cobalt 02 bị bắn rơi tại hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội), trong chiến dịch Linebacker II

Trong khi đó, chiến dịch thất bại chua cay này đã làm đau đầu giới quân sự Hoa Kỳ. Đây là chiến dịch mà phía Mỹ đã chủ động lựa chọn được địa điểm, thời điểm, phương thức chiến đấu và đặc biệt là sử dụng được sở trường của mình để chống sở đoản của đối phương (trình độ khoa học công nghệ), một cuộc đấu mà đối phương sẽ không thể sử dụng sở trường chiến tranh du kích.

Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, theo như nhiều tướng Mỹ đã thú thật trong hồi ký của họ sau này; Việt Nam hầu như luôn là phía quyết định đánh lúc nào và đánh tại đâu, du kích Việt Cộng giăng khắp nơi, nông thôn chỗ nào cũng có du kích, thành thị nơi nào cũng có biệt động - dân quân - tự vệ, và phía Mỹ bị động, bị Việt Nam gần như "dắt mũi" trong suốt cuộc chiến. Đây là lần hiếm hoi mà họ có thể quyết định đánh lúc nào và đánh ở đâu, nhưng họ vẫn không tránh khỏi kết quả đại bại.

Từ đâu có chiến dịch Linebacker II?

Năm 1968, cuộc tổng tấn công và khởi nghĩa Mậu Thân nổ ra khắp miền Nam Việt Nam trong những vùng bị quân đội Mỹ chiếm đóng. Nhờ chiến công đó mà những năm sau Việt Nam đã áp lực được Mỹ ngồi vào bàn đàm phán Paris trên thế kém. Trước đó, phía Mỹ luôn theo đuổi chính sách "đàm phán trên thế mạnh", đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận những tiền đề, những nguyên tắc do họ đặt ra, chấp nhận những điều kiện do họ đưa lên.


Miền Nam tổng nổi dậy năm 1968

Cuộc hội nghị ở Paris giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là để có được một giải pháp hòa bình, kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Ban đầu chỉ có đàm phán 2 bên là Việt Nam và Hoa Kỳ, về sau phát triển thành hội nghị 2 phe (Việt Nam, Hoa Kỳ) và 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn).

Lập trường của Hoa Kỳ trong thời gian đầu phù hợp với mục tiêu chiến lược và lợi ích của họ trong khu vực: Mỹ được toàn quyền ở miền Nam. Miền Bắc không được chi viện cho miền Nam. Giải tán Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Lập trường của Việt Nam trong thời gian đầu phù hợp với mục tiêu độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của nước nhà: Quân đội Mỹ phải "cút" khỏi lãnh thổ Việt Nam. Người Việt Nam dù là Bắc, Trung, hay Nam đều có quyền đi, ở, đóng quân bất kỳ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, Mỹ không có quyền can thiệp. Mỹ phải chấm dứt xâm lược và hoàn toàn chấm dứt can dự, dính líu đến việc nội bộ của Việt Nam. Ngụy quyền không được phép tồn tại và phải bị giải tán. Hà Nội là thủ đô của cả nước Việt Nam, bao gồm miền Nam Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiếm đóng bất hợp pháp, phải cuốn gói về nước vô điều kiện. Ngụy quyền phải giải tán vô điều kiện, và sau đó có thể những nhân vật chóp bu ngụy quyền phạm pháp (tội phản quốc) sẽ bị xử tội theo luật pháp Việt Nam.

Với lập trường còn quá xa nhau, mục tiêu còn quá trái ngược nhau như vậy nên suốt thời gian đó, hai phe Mỹ - Việt đã không đạt thành hiệp nghị mà chủ yếu dùng bàn họp ở Paris như là một mặt trận đấu tranh chính trị, tranh luận với nhau, Mỹ lên án "Bắc Việt Nam xâm lược Nam Việt Nam", Việt Nam lên án chiến tranh xâm lược và những tội ác Mỹ-ngụy.

Năm 1969, do thất bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ, đặc biệt sau chiến dịch Mậu Thân, gần như cả thế giới, trong đó có cả nhân dân Mỹ thúc ép chính phủ Mỹ sớm chấm dứt xâm lược Việt Nam và đưa lính Mỹ, đưa người thân của họ về nước.

Những thất bại quân sự và chính trị của Mỹ trong thời gian này đã tác động mạnh đến tình hình Liên bang Hoa Kỳ, tổng thống Nixon trong ngày nhậm chức tổng thống Mỹ đã phải phát biểu: "Nước Mỹ đang có khủng hoảng về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ nội bộ. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước Mỹ không riêng về mặt kinh tế, quân sự mà cả xã hội cũng như chính trị. Sự bất đồng cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và bất kể kết quả chiến tranh như thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành".

Để cứu vãn tình hình bi đát của Mỹ trong khi các lực lượng chiến đấu của họ ngày càng lún sâu vào trong "vũng lầy Việt Nam" và ngày càng có nhiều lính Mỹ chết trận, tổng thống Nixon sau nửa năm cầm quyền đã đề ra "Chủ thuyết Nixon", và chiến lược De-Americanization (Phi Mỹ hóa) cuộc chiến ở Việt Nam là một chiến lược cơ bản trong chủ thuyết này.


Đội hình F-4 phối hợp với A-7 không kích miền Bắc Việt Nam

Ban đầu Nixon và các cố vấn định dùng danh từ "Phi Mỹ hóa". Nhưng sau đó bộ trưởng quốc phòng Melvin Laird cho rằng danh từ này đã gián tiếp thừa nhận việc Mỹ đã xâm lược Việt Nam, thú nhận vai trò chính của Mỹ trong cuộc chiến. Do đó, ông đề nghị dùng một danh từ nào đó không đả động gì tới Mỹ. Theo đó, cái tên mới "nhẹ nhàng" hơn là Vietnamization (Việt Nam hóa) đã được sử dụng.

Cũng như chiến lược (Da) vàng hóa chiến tranh của người Pháp năm 1949 trong Chiến tranh Đông Dương, chiến lược này là một cách để dùng người Việt đánh người Việt, đẩy ngụy quân bản xứ ra đánh thay và chết thay, như những tấm bia đỡ đạn, nhằm giảm bớt thương vong cho lực lượng xâm lược. Đó cũng là quy luật chung của các cuộc chiến tranh xâm lược từ xưa đến nay trong lịch sử Việt Nam, mà trước đó các triều đại phong kiến Trung Hoa và thực dân Pháp đều đã sử dụng.

Thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, người Mỹ muốn "vắt hết quả chanh" nguồn nhân lực người Việt ở miền Nam Việt Nam, máu của thanh niên miền Nam, nhằm phục vụ cho cuộc chiến của họ, dùng người Việt dưới sự trả lương, huấn luyện, chỉ huy của người Mỹ để giảm bớt gánh nặng cho người Mỹ.

Nói chung, "Việt Nam hóa" là sự kết hợp ba chiến lược chiến tranh của Mỹ: "Chiến tranh giành dân"; "chiến tranh bóp nghẹt" và "chiến tranh hủy diệt". Họ muốn đạt được ba mục tiêu đó với ít tổn thất nhất cho quân nhân Mỹ, và các lực lượng ngụy quân có thể tự thân tham chiến một mình, không cần lính Mỹ ra tay, và nếu không cần cả hỏa lực Mỹ hay không quân Mỹ thì càng tốt. Họ muốn xây dựng một đội quân bản xứ hoàn toàn đủ khả năng chiến đấu thay cho quân đội viễn chinh từ chính quốc.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin R. Laird khi đó đã miêu tả chính sách này trong tài liệu công khai của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ như sau: "Phát triển, trang bị, và huấn luyện quân đội 'Nam Việt Nam' và phân công họ ngày càng nhiều vai trò chiến đấu hơn, đồng thời đều đặn giảm bớt số lượng của quân nhân chiến đấu Mỹ." ("Expand, equip, and train South Vietnam's forces and assign to them an ever-increasing combat role, at the same time steadily reducing the number of U.S. combat troops")

Việt Nam "vừa đánh vừa đàm" với Hoa Kỳ cho đến năm 1972. Chiến cuộc năm 1972 tại Việt Nam không phải là ngoại lệ với tình trạng "vừa đánh vừa đàm". Lịch sử Việt Nam đã từng chứng kiến những điều tương tự xảy ra trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông của nhà Trần (thế kỷ XIII) và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (đầu thế kỷ XV).

Mật độ sử dụng không quân của Hoa Kỳ trong năm 1972 tại miền Bắc Việt Nam vượt xa chiến tranh Triều Tiên, chỉ kém chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ trong 9 tháng, máy bay Mỹ đã rải xuống Bắc Việt Nam 210.000 tấn bom. Trong chiến dịch Linebacker II, nếu tính số lượng bom trong một ngày thì có thể bằng các cuộc ném bom xuống nước Đức cuối Thế chiến II; nhưng xét khu vực hạn chế đường kính 100 dặm quanh Hà Nội thì có thể thấy rằng chưa bao giờ có nhiều bom được ném xuống một khu vực trong thời gian hạn chế như vậy.


Áp giải phi công Mỹ

Đến giữa năm 1972, gã khổng lồ "chú Sam" bắt đầu "mỏi chân", nên họ đẩy mạnh quá trình "Việt Nam hóa chiến tranh", "Đông Dương hóa chiến tranh", tăng cường xây dựng, phát triển, trang bị, huấn luyện ngụy quân. Họ muốn đẩy quá trình phi Mỹ hóa lên cao nhất: Mỹ sẽ rút các đơn vị chiến đấu. Ngụy quân hoàn toàn đánh thay Mỹ. Từng bước biến những trận đánh giữa người Việt và người Mỹ trở thành những trận đánh giữa người Việt với nhau. Tương đồng với những gì thực dân Pháp đã làm từ năm 1949 với chiến lược "Vàng hóa chiến tranh" với ít thành công hơn.

Họ muốn dùng người Việt đánh người Việt, "thay màu da trên xác chết". Nguyên văn câu nói của đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker, làm việc ở Việt Nam từ năm 1967 đến 1973, về chương trình Việt Nam hóa chiến tranh là: "Thay đổi màu xác chết" ("Changing the color of the corpses").

Tại sao Mỹ ký xong rồi lại phá hoại hiệp định Paris?

Trước thực tiễn mới và theo kế hoạch nói trên, Mỹ cũng đã thay đổi mục tiêu trong hội nghị Paris. Nếu trước đó mục tiêu của Mỹ là quân đội Mỹ có toàn quyền ở miền Nam Việt Nam và quân đội Việt Nam phải rút về miền Bắc, thì bây giờ mục tiêu của quân đội Mỹ là làm sao cho Việt Nam để yên cho họ rút quân êm đẹp. Đồng thời vẫn duy trì yêu cầu quân đội Việt Nam phải rút về miền Bắc, giải tán Mặt trận và chính quyền Tây Ninh.

Như vậy, mục tiêu của Mỹ trong lúc này là rút thực binh, cứu vãn mạng sống của quân viễn chinh, đẩy mạnh hơn nữa quá trình Phi Mỹ hóa - Việt Nam hóa chiến tranh. Do đó họ mới thỏa hiệp, nhượng bộ nhiều vấn đề và chấp nhận ký vào hiệp định Paris, thực tế là để đổi lấy việc Việt Nam không cử binh đánh mà để yên cho họ rút quân số lượng lớn.

Sau khi Hoa Kỳ đã đạt được mục tiêu đó, hoàn thành việc rút quân mà không mất giọt máu nào, thì vai trò thực tế của hiệp định Paris đến đó là hết. Mỹ tích cực hậu thuẫn, cung cấp tiền bạc, vũ khí, hướng dẫn, và lệnh cho Thiệu "tiên hạ thủ vi cường" (đánh trước chiếm ưu thế), bất ngờ đánh mạnh, lấn chiếm nhiều vùng giải phóng, nhằm giành cho được thế thượng phong, trong khi quân đội Việt Nam được lệnh phải án binh bất động, chờ xem tình hình.

Vậy tại sao trước khi ký vào hiệp định, Mỹ còn ném bom miền Bắc?

Chính trị là vấn đề biến ảo khôn lường, thiên biến vạn hóa. Mặc dù Mỹ rất muốn Việt Nam để yên cho họ rút quân an lành, và họ chỉ cần ký vào hiệp định là đạt được mong muốn đó. Nhưng họ vẫn còn danh dự, uy thế, "thương hiệu" của một đại cường quốc. Để bảo vệ danh dự, hình ảnh Hoa Kỳ, và bảo vệ lợi ích của họ trong cuộc chiến, họ muốn buộc Việt Nam cũng phải nhượng bộ bằng cách rút về vĩ tuyến 17 các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Áp giải phi công Mỹ

Chiến dịch Linebacker II oanh tạc miền Bắc và thủ đô Hà Nội chính là để ép Việt Nam chấp nhận điều đó, cũng như một số điều khác của họ trong hội nghị Paris. Sau khi chiến dịch bị phá sản, Mỹ không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận bản dự thảo tháng 10 mà trước đó họ đã "làm giá" và "từ chối", và ký hiệp định chính thức. Giáo sư Guenter Lewy, trong cuốn sách "Mỹ ở Việt Nam", xuất bản năm 1978, đã cho biết: "Chiến dịch Linebacker 2 không thể vắt ra được những nhượng bộ quyết định nào của Việt Nam".

Một số người thuộc chính phủ Sài Gòn tự an ủi rằng Mỹ làm như vậy là để làm vui lòng Nguyễn Văn Thiệu. Đây là lập luận phi lý. Người Mỹ không lãng phí nhân mạng, tiền bạc, máy bay, vũ khí và thời gian, tốn nhiều công sức, liều đánh tới như vậy, tốn kém, tổn thất đến như vậy chỉ để làm vui lòng một nhân vật mà họ không coi ra gì. Trong thời điểm đó Nixon đã tỏ ra không bằng lòng với Thiệu và nói nhiều câu với Kissinger cho thấy sự coi thường: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận ký vào." "Tôi sẽ cắt đầu nó nếu cần thiết." "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được".

Theo tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của Ngụy Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” (The Palace File) xuất bản năm 1986 thì trong thời điểm đó Mỹ đã nhiều lần gởi thơ yêu cầu, bắt buộc, và đe dọa (kể cả việc nhắc lại vụ hạ sát Ngô Đình Diệm nhằm đe dọa tính mạng Thiệu) Thiệu phải ký vào hiệp định.


Quân đội Mỹ cuốn gói về nước dưới sự kiểm tra, giám sát của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1973).

Bản chất của hội nghị Paris là gì?

Bản chất của hội nghị Paris ban đầu là để đôi bên đạt được mục đích tối cao của mình. Việt Nam muốn "Mỹ cút ngụy nhào". Mỹ thì muốn có toàn quyền sinh sát ở miền Nam Việt Nam, quân đội Việt Nam phải rút về Bắc, kháng chiến miền Nam bị giải tán.

Đến năm 1972, trước sự thắng thế của Việt Nam và sự thất thế, sa lầy của Hoa Kỳ, mục tiêu của họ lúc này là rút quân yên lành, giữ cho được và củng cố ngụy quyền. Như vậy, thực tế lúc này Việt Nam và Hoa Kỳ đã có một điểm chung quan trọng, đó là cả hai đều muốn quân đội viễn chinh rút khỏi. Và Việt Nam "cầu còn không được", đã tạo điều kiện cho Mỹ làm việc đó.

Cả hai phe đều nhượng bộ vấn đề chấp nhận sự tồn tại của 2 chính quyền ở Tây Ninh và Sài Gòn như là một thực thể chính trị ở miền Nam Việt Nam. Điều này không có nghĩa hai phe công nhận sự chính danh của chính quyền Sài Gòn và chính quyền Tây Ninh với tư cách của một quốc gia, nhà nước. Lập trường ban đầu là hai phe đều không chấp nhận sự tồn tại "đồng minh" của nhau và yêu cầu "đồng minh" đó phải giải tán vô điều kiện.

Mỹ chấp nhận rút quân và đề nghị Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam cũng làm điều đó. Song Việt Nam luôn có nguyên tắc bất biến: Người Việt Nam có quyền đi đến bất kỳ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, bác bỏ lời đề nghị rút quân của Mỹ. Đây là vấn đề mà Việt Nam coi là một vấn đề mang tính nguyên tắc và không nhượng bộ, thậm chí không chấp nhận bàn về vấn đề đó. Và cuộc chiến ở Hà Nội nổ ra là tất yếu, Mỹ muốn ép Việt Nam phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, để Mỹ rảnh tay hơn, dễ dàng hơn trong việc củng cố ngụy quyền, huấn luyện ngụy quân, củng cố chế độ thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, và cũng để Mỹ bảo vệ được phần nào danh dự cường quốc của họ.


Richard Nixon, Gerald Ford, Henry Kissinger và Alexander Haig tại Nhà Trắng năm 1973

Nhìn chung, chiến dịch Linebacker II xảy ra nhằm ép bức Việt Nam phải chấp nhận rút các đơn vị quân đội từ miền Bắc phải trở về. Chấp nhận luật chơi quân đội Mỹ rút thì Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng phải rút. Và miền Nam chỉ còn lại chính phủ cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân Giải phóng, và chính quyền, quân đội Sài Gòn.

Nói cụ thể hơn là họ muốn Việt Nam phải thay đổi bản dự thảo tháng 10, chủ yếu là nhượng bộ và chấp nhận điều khoản trước đó do họ đề xướng là QĐNDVN phải rút về Bắc. Nhưng Việt Nam chỉ chấp nhận nguyên tắc 1 nước Việt Nam: Các lực lượng nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. "Ông là người nước ngoài thì ông đi khỏi nước tôi. Còn đây là nhà tôi, tôi ở lại nước tôi, nhà tôi thì tôi muốn đi đâu thì đi. Tôi không bàn với ông chuyện tôi ở đâu trên đất nước tôi. Cũng như ông không bàn với tôi chuyện ông ở đâu trên đất Mỹ.".

Với góc nhìn trịch thượng của kẻ mạnh, của kẻ quen thói diều hâu bá quyền, đậm chất thực dân của họ, thì một khi Mỹ đã "nhượng bộ" thì Việt Nam cũng phải nhượng bộ, Mỹ đã rút quân khỏi miền Nam thì Việt Nam cũng phải rút quân khỏi miền Nam. Việt Nam không làm vậy thì có nghĩa là Việt Nam không tôn trọng Mỹ, thậm chí là "trèo lên đầu lên cổ" người Mỹ. Nhiều phần tử diều hâu cho đó là một nỗi quốc sỉ cho quốc thể Hoa Kỳ, cho nên chiến dịch Linebacker II xảy ra là điều phải đến.

Bản chất của hiệp định Paris là gì?

Hiệp định này thực tế để bảo đảm cho việc Hoa Kỳ rút quân bình yên ra khỏi Việt Nam, và lúc đó sẽ không có chiến dịch quân sự từ Việt Nam. Nếu ai đã từng đánh nhau với người khác đều minh bạch rằng trong lúc đánh nhau không dễ nói chạy là chạy, đặc biệt trong trường hợp đang yếu thế hơn thì càng không thể nói chạy là chạy được. Chỉ cần quay đầu, quay lưng là bị nốc-ao ngay. Muốn chạy thì phải có khoảng cách an toàn nào đó hoặc đạt được thỏa thuận với đối phương.

Các danh tướng thời xưa, trong buổi đầu sơ khai nhất của nghệ thuật chiến tranh, cũng biết đạo lý này. Vị tướng nào đào tẩu thì đều cẩn thận dò trước ngó sau, gài lại phục binh chặn truy kích. Những tướng tài giỏi hơn thì biết dùng kế nghi binh, ngụy tạo số lò bếp v.v. để làm cho địch nghi ngờ không dám đuổi theo hoặc chậm trễ truy kích. Thời Tam quốc bên Trung Quốc, danh tướng Lục Tốn của Đông Ngô đã dùng nghi binh kế khiến cho sau 3 ngày lui quân thì quân Bắc Ngụy mới phát hiện ra doanh trại địch trống rỗng không còn một bóng người.

Trường hợp của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng vậy, nếu trong lúc hàng chục vạn quân Mỹ đang tụ tập dồn cục lo rút đi mà Việt Nam mở chiến dịch quân sự ngay lúc đó thì sẽ có đổ máu lớn. Trước đó Việt Nam cũng đã chứng tỏ được là họ có khả năng đánh ở bất kỳ nơi nào ở miền Nam Việt Nam, kể cả đầu não Sài Gòn, kể cả tòa đại sứ Mỹ, và đánh rất bất ngờ, khó lường.


Hai phía Mỹ - Việt ký vào hiệp định Paris

Nhiều cựu quân nhân Mỹ ngày nay cho rằng bản chất của hiệp định là một sự nhượng bộ và nhịn nhục của người Mỹ, như một cú đấm vào "niềm tự hào Hoa Kỳ" của họ, như một mũi tên bắn vào thần ưng, biểu tượng quốc gia của họ. Họ cho rằng họ phải rút đi mà không đổi lại được gì, lực lượng quân đội có tổ chức lớn từ miền Bắc vẫn ở miền Nam, và quân dân miền Nam cũng không giải tán. Trong khi những "nhượng bộ" của Việt Nam thì Mỹ đều không có khả năng và điều kiện để giám sát, kiểm tra, áp chế, thi hành.

Hai nhượng bộ đáng kể của Việt Nam là việc trao trả tù binh Mỹ-ngụy. Và việc chấp nhận sự tồn tại trong hòa bình của ngụy quyền Sài Gòn như là một trong các thành phần chính trị ở miền Nam Việt Nam, được quyền đứng gần ngang hàng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Từ lập trường coi Ngụy Sài Gòn như là một đám ô hợp cần giải tán ngay, không chấp nhận sự tồn tại của họ như là một trong những thành phần chính trị, thì đã chuyển thành chấp nhận sự tồn tại của họ như một thành phần chính trị, coi họ gần ngang hàng với chính quyền Tây Ninh và "thành phần thứ ba". Việt Nam cũng đồng ý cho Thiệu tham gia bầu cử trong chính phủ liên hiệp 3 thành phần trong cuộc tổng tuyển cử quy định trong hiệp định Paris, cùng với người của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và "thành phần thứ ba".

Đây là một nhượng bộ lớn, bởi vì theo luật pháp Việt Nam thì Ngụy Sài Gòn là một tổ chức phản quốc theo giặc. Nếu chiếu theo các nguyên tắc và tiêu chí ngày nay thì có thể xem là một tổ chức khủng bố, mạo xưng bất hợp pháp các "quốc hội", "nhà nước" lên trên một Nhà nước Việt Nam đã có sẵn từ năm 1945 và Quốc hội khóa 1 từ năm 1946, càn quét, khủng bố trắng nhân dân, thảm sát thường dân, toa rập, đồng lõa, tiếp tay cho Mỹ dùng bom đạn khủng bố, thảm sát nhân dân, rải bom và chất độc hóa học xuống những khu vực dân sự, hàng trăm vụ thảm sát đã xảy ra trong vùng tạm chiếm ở miền Nam....

Như vậy, vì mục tiêu đại cuộc mà Việt Nam trong thời điểm đó đã đành phải tỏ ra xem những người miền Nam cứu nước với những người theo giặc phản bội Tổ quốc là "bằng nhau", "ngang nhau", đó là những nhượng bộ rất lớn, cả về nguyên tắc lẫn luật pháp, đạo lý.


B-52, "quái vật điện tử" được xem là "không thể bắn trúng" rụng ngày một nhiều khi bay từng đàn, từng đàn vào lò lửa Hà Nội

Hiệp định này đã đem lại sự "danh chính ngôn thuận" cho các đội quân viễn chinh mệt mỏi của Hoa Kỳ rút khỏi chiến trường. Phần nào giữ được danh dự nước lớn của Hoa Kỳ. Còn đối với Việt Nam thì hiệp định này đã góp phần đạt được mục tiêu đầu mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ: "Đánh cho Mỹ cút". Sau đó, theo hiệp định, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam để thành lập chính phủ ba thành phần ở miền Nam Việt Nam (chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn và "lực lượng thứ ba" bao gồm những thành phần trung lập, muốn hòa bình và thống nhất bằng biện pháp ôn hòa).

Nhưng cũng như việc phá hoại cuộc tổng tuyển cử toàn quốc theo hiệp định Genève 1954, Mỹ lại phá hoại cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam theo hiệp định Paris 1973. Sau khi quân đội Mỹ đã về nước, không còn phải lo đến nhân mạng binh sĩ và áp lực từ Quốc hội, chính trường, dư luận nhân dân, thì chính phủ Mỹ lập tức phản bội hiệp định, đưa Thiệu ra phát ngôn quá khích và phá hoại hiệp định.


Lê Đức Thọ và Henry Kissinger sau khi ký kết hiệp định Paris 1973

Mỹ-Thiệu đã phá hoại hiệp định Paris như thế nào?

Trong các thỏa thuận giữa hai phe và các điều khoản trong hiệp định, Mỹ chỉ thực hiện gần nghiêm chỉnh điều khoản rút quân. Còn ngoài ra tất cả các điều khác họ đều phớt lờ, phá hoại, hoặc thi hành không nghiêm chỉnh.

Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, cho biết trước khi hiệp định Paris được ký kết thì Nixon đã liên tiếp gởi thơ cho Thiệu mà ở đó Mỹ đã bắt Thiệu ký vào hiệp định. Và sau khi hiệp định đã được ký kết thì thì họ cho Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định, bằng việc cam kết tiếp tục trợ cấp đầy đủ về kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; Mỹ công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là "chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam"; không thừa nhận chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như đã thỏa thuận trong hiệp định Paris.

Mỹ-ngụy trước khi hiệp định Paris được ký kết, đã chấp nhận yêu cầu của Việt Nam về một cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ ở miền Nam để thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần, từng bước tiến tới thống nhất nước nhà trong hòa bình (như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này đã thực hiện nghiêm chỉnh năm 1976). Rốt cuộc, không có cuộc tổng tuyển cử nào diễn ra được.

Trước đó, Thiệu lên đài phát thanh bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào".

Sau khi Mỹ đã thành công rút quân về nước, Nixon liền ra tuyên bố cho biết Mỹ sẽ không ủng hộ cuộc tổng tuyển cử dân chủ ở miền Nam Việt Nam và sẽ làm những gì có thể để giữ ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu không sụp đổ. Nguyễn Văn Thiệu công khai tuyên bố lập trường 4 không: Không liên hiệp; Không thương lượng với đối phương; Không có hoạt động của cộng sản hoặc đối phương trong nước; Không để lọt vào tay đối phương bất cứ lãnh thổ nào, tiền đồn nào và khẳng định "không có hòa bình với cộng sản", "phải xóa thế da beo", "bắn bỏ những ai chứa chấp cộng sản".


Đại tướng Võ Nguyên Giáp thảo luận với các đồng chí và sau đó đã duyệt phương án đánh B-52 của Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân.

Trong hồi ký "Tổng Hành Dinh trong Mùa xuân toàn thắng", đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về chiến dịch Linebacker II của Hoa Kỳ như sau:

"Sau khi ra lệnh ném bom vào dịp Quốc hội Mỹ đang kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, Níchxơn lánh mặt đi nghỉ ở Kibiscâynơ, bang Florida, tránh các nhà báo và công luận Mỹ. Thế nhưng "chạy trời không khỏi nắng". Búa rìu dư luận đã giáng xuống đầu bọn xâm lược, đòi chúng phải chấm dứt ngay cuộc diệt chủng ở Việt Nam.

Hành động tàn bạo của Níchxơn trùm bóng đen lên ngày lễ Giáng sinh, khiến lương tâm của cả loài người nổi giận. Chưa bao giờ làn sóng phản đối chiến tranh của đế quốc Mỹ lại bùng lên dữ dội như những ngày này trên khắp hành tinh và ngay tại nước Mỹ. Các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa ra tuyên bố kịch liệt lên án hành động xâm lược mới của Mỹ, khẳng định sự ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Các đảng cộng sản và công nhân phẫn nộ tố cáo tội ác của Mỹ, kêu gọi nhân dân các nước đấu tranh đòi hoà bình cho Việt Nam. Ở khắp nơi trên thế giới, hàng triệu người xuống đường sôi sục biểu tình lên án mạnh mẽ hành động tội ác ghê tởm của Nhà Trắng. Các nghị, sĩ Quốc hội Mỹ ở cả hai viện chỉ trích gay gắt hành động leo thang mới của Níchxơn đã tiến hành mà không tham khảo ý kiến Quốc hội và nhân dân Mỹ. Tờ Thời báo Niu Yoóc, ngày 20-12-1972, cảnh cáo "Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá?". Duy nhất chỉ có bè lũ Nguyễn Văn Thiệu là hí hửng, vui mừng. Hãng AP (Mỹ) ngày 19-12 đưa tin "một quan chức cao cấp của Nam Việt Nam cho rằng cuộc tiến công trở lại vào vùng trung tâm của Hà Nội và Hải Phòng là để khuyến khích chúng tôi"… rằng "việc này chứng tỏ Mỹ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi", và nhắc lại lời của Thiệu tháng 8-1972 van xin Mỹ "ném bom cho tan nát miền Bắc Việt Nam(!)". Xấu xa đến mức báo Nhân đạo (L Humamté) ở Pháp đã bình luận: "Ngay như trước đây, trong hồi Chiến tranh thế giới thứ hai, những tên Pháp gian như Đôriô cũng không dám đề nghị "đồng minh" tàn phá Paris. Thế mà nay Thiệu lại mong muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ!".


Thiệu đã có những phát ngôn vô cảm, nhẫn tâm, độc ác, và lộ rõ bản chất phản quốc. Trong lịch sử chưa từng ghi nhận một kẻ bán nước nào lại đủ sự tàn độc và xấu xa để thốt lên được những lời lẽ sặc mùi phản dân hại nước đến cấp độ đó, dù là Trần Kiện, Trần Ích Tắc, hay Lê Chiêu Thống.

Mặc dù có cầu ngoại viện, để mong "giúp" đưa mình lên ngai vàng, nhưng họ chưa bao giờ xin "đồng minh" Hốt Tất Liệt và Nguyên Mông, Càn Long và Mãn Thanh phá hủy Thăng Long. Còn Thiệu thì công khai xin Nixon và Hoa Kỳ phá hủy Hà Nội.

Mặc dù trước đó Việt Nam bị chia đôi thành Đàng Ngoài và Đàng Trong hơn 100 năm nhưng Lê Chiêu Thống chưa bao giờ dám tuyên bố xanh rờn "Bắc Hà là Bắc Hà và Nam Hà là Nam Hà, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Đại Việt, Tây Sơn phải rút về Nam Hà, không bên nào được xâm lược bên nào" như Nguyễn Văn Thiệu đã phát biểu.


Vị trí của "Trạm Yankee", nơi đậu các tàu sân bay Hoa Kỳ trên Biển Đông

Chữ ký của Hoa Kỳ và chữ ký bất đắc dĩ của ngụy quyền Sài Gòn còn chưa khô mực vào hiệp định có những nội dung sau thì họ đã mau chóng "lật kèo":

- "Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã quy định trong hiệp định Genève 1954."

Những hành động phá hoại hiệp định kể trên đã không cho thấy điều đó.

- "Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, "cố vấn" và chuyên viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam."

Mỹ tiếp tục can thiệp mạnh mẽ và nắm chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Nam. Tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Nguyễn Văn Thiệu. Duy trì chế độ thực dân mới. Rút đại quân nhưng để lại hàng vạn "cố vấn" và chuyên gia quân sự mặc thường phục, khắp miền Nam vẫn đầy người Mỹ.

Sau năm 1973, lính Mỹ có quay lại Việt Nam trong các đợt rời rạc, đặc biệt là lính Thủy quân lục chiến. Việc quân chính quy Mỹ rút đi và chấm dứt các chiến dịch quân sự trực tiếp do thực binh Mỹ tiến hành không có nghĩa sau năm 1973 không còn người lính Mỹ nào ở Việt Nam. Mỹ cam kết trong hiệp định rằng sẽ phá đổ các căn cứ quân sự Mỹ, nhưng họ đã "hứa lèo" và chuyển giao nó lại cho quân đội Sài Gòn.

- "Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền (chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn), hai quân đội (Quân Giải phóng miền Nam và quân đội Sài Gòn), hai vùng kiểm soát (vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) và ba lực lượng chính trị (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn, lực lượng thứ ba)."

Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử, và cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra được. Họ không từ bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam, cố gắng bám víu, sử dụng nơi đây như một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là một thuộc địa kiểu mới. Họ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân trên quy mô lớn. Mỹ đã tăng cường cung cấp quân sự và chu cấp kinh tế cho tay sai, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy chiến tranh với hàng vạn "cố vấn" và nhân viên quân sự người Mỹ đội lốt dân sự. Họ hy vọng chỉ ba năm sau đó, đến năm 1976, sẽ có thể xây dựng và củng cố được một chế độ thực dân mới ở miền Nam và thực hiện chia cắt lâu dài Việt Nam.

Hoa Kỳ đã phá hoại tổng tuyển cử theo hiệp định Genève 1954 sau 2 năm. Nếu như khi đó Hoa Kỳ ngụy biện đổ cho mình và ngụy quyền Bảo Đại của Pháp không ký vào đó nên "không cần" thi hành (hiệp định có giá trị trên lãnh thổ đó thì chính quyền nào cũng phải thi hành, Mỹ-Bảo Đại-Diệm "thừa kế" từ Pháp thì phải thi hành dù có ký hay không), thì lần này Mỹ và ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu có ký vào hiệp định và ngay sau khi rút quân thành công đã bội ước ngay. Có thể nói đây là một sự lật lọng nhanh chóng, ngang ngược và trắng trợn hiếm thấy trong lịch sử chính trị thế giới.

- "Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt."

Hàng vạn tù binh và dân thường Việt Nam đến sau ngày 30/4/1975 mới được tự do. Trước ngày 30/4 các tù nhân, tù binh phía Việt Nam vẫn đầy ở Côn Đảo, Phú Quốc và nhiều nơi khác, không hề được trao trả theo hiệp định.

oOo


Sau chuyến đi Mỹ gặp Nixon thì Thiệu lại càng quá khích hơn, phá hoại hiệp định Paris một cách bài bản và có hệ thống, đặc biệt là bóp nghẹt mọi quyền tự do được quy định trong điều 11: Quyền đi lại làm ăn sinh sống, bị hạn chế, kiểm soát, tự do tín ngưỡng bị xúc phạm, kỳ thị, nhất là với giới tăng ni Phật tử. Danh từ "sư Việt Cộng" được báo chí Sài Gòn tận dụng để "chụp nón cối" các tăng ni. "Noi gương" thời Mỹ-Diệm, thấy đất chùa nào muốn cướp thì vu cho là "Việt Cộng nằm vùng", "chứa chấp Cộng Sản", "ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản", gán ghép chụp mũ vu khống vô tội vạ. Những người bị tình nghi thân cộng đều bị đặt máy nghe lén, theo dõi, cấm đoán, bắt cóc, bắt bỏ tù, tra khảo, đập chết trong nhà tù, đày ra Côn Đảo - Phú Quốc, đàn áp khốc liệt.

Riêng ở miền Tây Nam Bộ và một số vùng, thời kỳ này Thiệu vi phạm lộ liễu hiệp định Paris, lệnh ngừng bắn không được thực hiện, trái lại Thiệu cho xuôi quân bắn giết, đốt phá và lấn chiếm vùng giải phóng, bành trướng mở rộng vùng tạm chiếm. 75 tiểu đoàn ngụy, máy bay, xe tăng, vũ khí hiện đại tập trung tấn công ồ ạt vào Cần Thơ, Vị Thanh, Long Mỹ, tiến tới tấn công U Minh, lấn chiếm toàn bộ miền Tây.

Họ ra sức kềm kẹp cấm đoán mọi quyền của dân, không cho quần chúng trở về ruộng vườn cũ, không cho đi lại làm ăn – thực hiện chính sách "tát nước bắt cá", để tiêu diệt cách mạng, dồn dân vào các trại tập trung. Đồng thời tuyên truyền xuyên tạc hiệp định, gây hoài nghi trong quần chúng, bảo rằng Việt Cộng đã thua Mỹ nên phải ký hiệp định Paris, cấm đoán quần chúng không cho tổ chức mừng hòa bình, bắt học thuộc lòng 10 điều phải làm, 10 điều bị cấm.

Nếu như năm 1956 Mỹ-Diệm phá hoại tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam là vì CIA thăm dò dư luận và biết rằng Hồ Chí Minh sẽ thắng chắc, thì năm 1973 Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử thống nhất miền Nam (hợp nhất vùng giải phóng và vùng tạm chiếm), thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần là vì chính phủ Mỹ, Thiệu, CIA biết lòng dân ủng hộ Mặt trận, Thiệu bị chống khắp nơi, kể cả từ những đảng phái chống cộng, thân Mỹ, ghen ghét vì Thiệu được Mỹ sủng ái.

Thiệu cũng bị chống rất gay gắt từ "thành phần thứ ba" (trung lập giữa cộng sản và tư bản, không phải là cán bộ cộng sản, chống Mỹ-Thiệu, ủng hộ thống nhất - độc lập - hòa bình, yêu cầu quân đội nước ngoài rời khỏi VN), và Thiệu cũng bị chống bởi nhiều đồng bào Phật tử, giáo phái, thậm chí các tín đồ Thiên Chúa giáo cũng không ưa Thiệu vì họ trung thành với nhà Ngô. Thiệu là một trong những tay đầu sỏ trong cái gọi là "Hội đồng Quân nhân Cách mạng" do Mỹ giật dây năm xưa, đảo chính và hạ sát anh em nhà Ngô.

Mỹ-Thiệu cũng nghi ngờ và cáo buộc rằng "thành phần thứ ba" thực chất cũng đã đi theo Việt Cộng từ lâu, hay ít nhất là có cảm tình với Việt Cộng, do Việt Cộng lãnh đạo, cho nên chính phủ ba thành phần chẳng khác nào "hai đánh một".

Với tình hình Thiệu bị mọi phe phái, đối thủ chính trị ở miền Nam, với đủ mọi màu sắc, xu hướng chính trị, chống đối quyết liệt, thì việc tham gia bầu cử để hy vọng có một chân trong chính phủ ba thành phần, mà hai thành phần một bên là Mặt trận, một bên là "lực lượng thứ ba" vốn cũng đã "ghét cay ghét đắng" Thiệu, chẳng khác nào là một sự "mơ giữa ban ngày". Với tình hình đó mà Thiệu chấp nhận bầu cử thì Thiệu sẽ không còn gì cả.

Mỹ và Thiệu hiểu rằng nếu bầu cử một cách đàng hoàng, không dàn dựng như những cuộc "bầu cử phiếu xanh phiếu đỏ", "tranh cử đối lập cuội" trước đây, có sự giám sát của các tổ chức, đoàn thể trung lập trong nước và quốc tế, thì Thiệu sẽ chẳng "xơ múi" được gì. Số phận của Thiệu có lẽ cũng sẽ không khác gì với Bảo Đại, Việt Quốc, Việt Cách trong chính phủ liên hiệp nhiều thành phần của Việt Minh trước đây. Sớm muộn gì rồi tất cả cũng sẽ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Do đó, việc Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử cũng là điều không quá gây ngạc nhiên, là điều nằm trong dự liệu của Việt Nam.

Việc Mỹ-ngụy viện đủ lý do để không chấp hành tổng tuyển cử ở miền Nam để thành lập chính phủ ba thành phần, cũng như các điều khoản khác, và sau đó phá hoại, không coi hiệp định Paris ra gì, đã làm cho giải pháp hòa bình ở miền Nam Việt Nam và giải pháp thống nhất Việt Nam trong hòa bình vào năm 1973 đã bị vô hiệu hóa và không còn ý nghĩa gì. Hiện thực mới này đã buộc những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam phải chiến đấu tự vệ trước nhiều đợt càn quét mới của ngụy quân, và Việt Nam đã tiến hành phản công, tiến tới mục tiêu dứt điểm: "Đánh cho ngụy nhào", theo lời dặn của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bản chất và vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Cộng hòa miền Nam Việt Nam là gì?

Thiết kế chính trị của một chế độ XHCN luôn có Đảng và Mặt trận. Đảng trên nguyên tắc là lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lãnh đạo đất nước. Còn Mặt trận trên nguyên tắc là một mặt trận đoàn kết dân tộc, đoàn kết các giai cấp để cùng nhau thực hiện mục tiêu hiện tại của Đảng. Mặt trận ở Việt Nam trong lịch sử hiện đại có nhiều tên gọi, trong đó có 3 tên gọi được nhiều người biết tới: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra trước khi có Việt Minh còn có Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Dân tộc Thống nhất....

Đây là những Mặt trận khác nhau về tên gọi và mục tiêu trong từng thời kỳ, nhưng có cùng 1 bản chất, cùng 1 vai trò với các nhiệm vụ khác nhau. Nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh là đoàn kết dân tộc để chống Pháp trên toàn quốc. Nhiệm vụ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đoàn kết dân tộc (nhất là các phe phái ở miền Nam) để chống Mỹ trên phạm vi miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, bao gồm mọi thành phần, tầng lớp, trong và ngoài nước, để cùng nhau kiến thiết đất nước.

Các chế độ XHCN khác ở Liên Xô, châu Âu, Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên, Lào.... đều có những Mặt trận như thế. Trung Quốc có Mặt trận Dân Minh (Trung Quốc Dân chủ Đồng minh), đoàn kết lại các đảng phái dân chủ ở Trung Quốc như Nông Công Đảng (Đảng dân chủ nông công Trung Quốc), Trí Công Đảng (Đảng trí công Trung Quốc).... Bắc Triều Tiên có Mặt trận Dân chủ Thống nhất Tổ quốc, đoàn kết các chính đảng ở nước này như Đảng Lao động Triều Tiên, Đảng Dân chủ Xã hội Triều Tiên, Đảng Thanh hữu Thiên đạo (giáo phái).... Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội của Việt Nam trước khi tự giải tán cũng nằm trong Mặt trận Tổ quốc.

Mặt trận chính thức hoạt động ở miền Nam Việt Nam vào năm 1960, lấy tên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp nhân dân, giai cấp, dân tộc, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và các nhân sĩ trí thức yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh chống Mỹ-Diệm, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập (nghĩa là không mang màu sắc ý thức hệ), tiến tới thống nhất nước nhà.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các Mặt trận trước đó và sau này, là các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra trong từng thời kỳ khác nhau. Các tên gọi của Mặt trận tương xứng với các nhiệm vụ trong thời kỳ đó.

Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thời đó còn được một số người gọi là chính quyền Tây Ninh, chính phủ Tây Ninh, là một chính thể cách mạng lâm thời do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập vào năm 1969, sau khi Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch "Phi Mỹ hóa - Việt Nam hóa chiến tranh", đây là chủ bài của Việt Nam để đối phó với quân bài "Việt Nam Cộng hòa" của Mỹ trên bình diện pháp lý quốc tế, đặc biệt trong trường hợp Mỹ muốn "lấy thịt đè người", dùng ngụy quyền của mình để ngụy tạo "số đông" 2 chọi 1 trên bàn đàm phán.

Rút kinh nghiệm trong hội nghị Genève về Đông Dương, khi Việt Nam ban đầu chỉ có 1 mình, trong khi phe Pháp thì có Pháp và chính quyền Bảo Đại (Quốc gia Việt Nam, còn gọi là "chính phủ Quốc gia"). Phần lớn vì nguyên nhân đó, và cũng vì tin tưởng đồng minh Liên Xô và Trung Quốc, nên Việt Nam đã cho hai đồng minh vào tham gia đàm phán để củng cố thế mạnh đàm phán của mình.

Không ngờ sau đó Trung Quốc đi đêm với Pháp - Mỹ và trở giáo, nên hiệp định Genève không đạt được thắng lợi như mong muốn và không tương xứng với thắng lợi Điện Biên Phủ chấn động địa cầu của Việt Nam. Theo hiệp định Genève 1954, thực dân Pháp không cần phải rút ngay, thay vào đó là rút dần trong hai năm, và phải chờ đợi đến hai năm sau mới tổ chức tổng tuyển cử hy vọng thống nhất đất nước trong hòa bình. Hai năm là quá lâu, đã tạo điều kiện, tạo cơ hội cho các thế lực ngoại xâm đánh dẹp các lực lượng kháng chiến miền Nam và củng cố vững chắc "dinh lũy" của họ.

Hiệp định Paris 1973 quy định Quân đội Nhân dân Việt Nam ở lại miền Nam. Còn theo hiệp định Genève 1954 thì QĐNDVN phải rút về miền Bắc. Đó là những cái khác nhau then chốt, nói lên chiến thắng tuyệt đối của Việt Nam trong hiệp định Paris.

Nhớ mãi bài học cay đắng đó, không muốn dẫm vào vết xe đổ năm 1954, nên lần này Việt Nam không cho Liên Xô và Trung Quốc tham gia quá trình đàm phán. Đồng thời dùng Cộng hòa miền Nam Việt Nam để "nói nhảm" những vấn đề không quan trọng, không thực chất với chính quyền Sài Gòn. Còn Việt Nam và Hoa Kỳ rảnh tay gặp riêng tranh luận, bàn bạc với nhau những vấn đề chính yếu, quan trọng, và đi vào thực chất. Phái đoàn của Việt Nam đứng đầu bởi ông Lê Đức Thọ và phái đoàn của Mỹ đứng đầu bởi Henry Kissinger chính là nhân tố quyết định.

Nhờ cách làm như vậy, cộng với chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không", đập tan "thần tượng B-52" của Mỹ, nên lần này Việt Nam tạo ra được kết quả nhanh gọn và dứt khoát, khác hẳn với những gì đã diễn ra năm 1954. Lần này quân đội Mỹ phải "cút" vô điều kiện và ngay lập tức, thậm chí Quân đội Nhân dân Việt Nam còn cho người ra giám sát sự rút quân đó. Nhiều cựu binh và giới sử học Mỹ đã coi đây là một sự nhục quốc thể, niềm tự hào Hoa Kỳ đã bị đánh mạnh vào.

Lần này Việt Nam cũng không phải chờ hai năm mới có tổng tuyển cử. Thay vào đó, hiệp định quy định tổng tuyển cử phải được tổ chức ngay sau khi Mỹ hoàn thành việc rút quân. Mỹ rút quân thì thực chất kết cục cuộc chiến đã được định đoạt, trước sau gì ngụy quyền cũng sẽ sụp đổ, nhất là khi QĐNDVN ở lại miền Nam.

Do đó, nếu bên kia phá hoại hiệp định, không đáp ứng, thì nghĩa là điều khoản đó vô hiệu, Việt Nam sẵn sàng dùng biện pháp vũ lực để tiến lên đánh dứt điểm cho "ngụy nhào", đánh bại những cố gắng bấu víu cuối cùng trong tuyệt vọng của Mỹ, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất Việt Nam.


Huy hiệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Quân Mỹ rút đi có phải là chấm dứt xâm lược hay không? Cuộc chiến từ năm 1973 có phải là "nội chiến" hay không?

Cũng như trước năm 1964, khi Mỹ chưa đổ đại quân vào, thì lúc đó có phải là "nội chiến" hay không? Đương nhiên là không! Vì trong bất kỳ giai đoạn nào từ năm 1954-1975 thì Mỹ vẫn là người lãnh đạo cuộc chiến ở phe bên kia. Hai cuộc trường chinh liên tục, tiếp nối nhau từ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trong thời kỳ 1945-1954 và chống toàn Mỹ đến năm 1975.

Quân đội Sài Gòn là do thực dân Pháp thành lập, dữ kiện này ghi rõ trong sách giáo khoa Sài Gòn trước 1975 và nhiều tài liệu, hồi ký, lời kể của các sĩ quan ngụy. Như vậy quân đội này là của Pháp. Sau đó Mỹ vào dùng và vá lại bằng tổ chức kiểu Mỹ. Nhiều tài liệu của Mỹ cũng cho biết như vậy. Trong bài "Lesson of the Vietnam War" của cựu sĩ quan Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg ghi rõ các lý do mà Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, trong đó có lý do thứ hai: "Bởi vì việc tra tấn và giết chóc thiếu nhân tính đang được thực hiện bởi đội quân mà Hoa Kỳ trang bị, huấn luyện và trả lương."

Trong giai đoạn 1973-1975, ngụy quân vẫn chiến đấu cho Mỹ, cho quyền lợi của Mỹ, theo sự chỉ đạo của Mỹ, theo ý muốn của Mỹ, phục vụ cho chiến lược của Mỹ, và vẫn do Mỹ nuôi dưỡng. Mỹ buông ra là sụp đổ. Như vậy trong giai đoạn này là một hệ thống thực dân mới (người bản xứ trực tiếp chiến đấu, làm việc, quản lý, người chủ đứng ngoài giám sát, kiểm soát, chi tiền, đỡ đầu và hưởng lợi). Giai đoạn 1964 đến 1973 là giai đoạn gần như thực dân cũ, nghĩa là Mỹ trực tiếp vào làm, trực tiếp vào đánh.

Chủ nghĩa thực dân cũ và mới là gì?

Chủ nghĩa thực dân là chính sách tạo dựng một chế độ thuộc địa. Trong hệ thống thực dân kiểu cũ, "mẫu quốc" là nước tuyên bố chủ quyền đối với những thuộc địa này. Trong hệ thống thực dân kiểu mới, "mẫu quốc" không tuyên bố chủ quyền mà sử dụng, kiểm soát, điều khiển, hưởng lợi tại nơi đó như một thuộc địa. Cấu trúc xã hội, chính quyền và kinh tế của lãnh thổ bị quốc gia thực dân áp đặt. Thuộc địa kiểu cũ bị thiết lập chế độ nô lệ, nhân dân thuộc địa bị nô dịch, bóc lột nặng nề và công khai.

Sự khác nhau giữa chủ nghĩa thực dân cũ (colonialism) và mới (neocolonialism) chủ yếu nằm ở hình thức và mức độ can thiệp, mức độ ảnh hưởng. Thực dân cũ duy trì hình thức thuộc địa, tuyên bố công khai rằng đây là thuộc địa của họ.

Còn thực dân mới thì tuyên bố rằng các thuộc địa có "độc lập", và đó là cái độc lập hình thức bề ngoài, còn trên thực tế thì không có bao nhiêu quyền hạn hay khả năng tự chủ, tự quyết. Tương tự một khu tự trị dán nhãn hiệu quốc gia độc lập. Nói chung, đó là một hình thái độc lập giả tạo, giả hiệu. Chỉ có cái tên, không có thực chất.

Thực dân mới không đem quân "công thành chiếm đất" sát nhập đất đai lãnh thổ. Họ cũng không trực tiếp đô hộ thông qua việc thiết lập hệ thống thuộc địa (colony), và rồi cướp bóc mọi nguồn tài nguyên và nhân lực của thuộc địa đem làm giàu cho mẫu quốc.

Thực dân mới tuyên bố "công nhận nền độc lập", "tự do dân chủ" của một thuộc địa có tên trên bản đồ thế giới như là một quốc gia chính thức. Và nếu cần, họ sẽ vận động các đồng minh, chiến hữu, chư hầu để "công nhận" cái gọi là "quốc gia" đó, từng bước dần dần biến thành một sự "hợp pháp quốc tế", một sự "chính danh", hợp thức hóa sự đô hộ thực chất của mình.

Họ, trên thực tế, kiểm soát gián tiếp các thuộc địa kiểu mới về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa (trường hợp mức độ nặng), hoặc thông qua kiểm soát về kinh tế mà kiểm soát về chính trị (mức độ trung bình). Cơ sở vật chất của thực dân mới là sở hữu của các công ty tài phiệt nước ngoài về tư liệu sản xuất của thuộc địa kiểu mới, còn chỗ dựa xã hội của nó là các giai cấp, tầng lớp bóc lột ở thuộc địa, đặc biệt là tầng lớp tư sản mại bản. Thủ đoạn thường thấy trong thế kỷ 21 ngày nay là viện trợ kinh tế kèm theo điều kiện chính trị có lợi cho "mẫu quốc" (mức độ nhẹ). Nói cách khác là dùng tiền mua chủ quyền.


Các quốc gia trên thế giới dưới tầm ảnh hưởng của quân đội Mỹ, tính đến năm 2007. Màu càng đậm nghĩa là ảnh hưởng quân sự Mỹ càng nhiều, màu càng nhạt thì sự ảnh hưởng càng ít. Hiện Mỹ đang có số lượng quân đội và căn cứ quân sự ở nước ngoài nhiều nhất thế giới.

Chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, ở một mức độ nhẹ nhàng hơn, tinh vi hơn, khôn khéo hơn, đã sử dụng chủ nghĩa tư bản, toàn cầu hóa và các kênh chính trị gián tiếp, kinh tế, văn hóa, quyền lực mềm, để lũng đoạn, thao túng, kiểm soát một thuộc địa kiểu mới thay vì kiểm soát, điều khiển thẳng thừng bằng quân đội chính quốc hoặc chính trị trực tiếp.

Các tập đoàn tư bản tài phiệt đa quốc gia thông qua những tác động này sẽ tạo sức ép, ký kết các hợp đồng béo bở và thực thi các chính sách có lợi cho họ ở những quốc gia này, tiến hành bóc lột nguồn lực lao động, cướp nguồn tài nguyên một cách "hợp pháp", "danh chính ngôn thuận", qua "đầu tư", cổ phần hóa, hợp đồng kinh doanh bất bình đẳng.

Quan điểm của bọn thực dân mới là: Tôi không công khai xâm chiếm, đô hộ chính thức, không sát nhập đất đai lãnh thổ của anh vào quốc gia của tôi, nhưng tôi trục lợi nước anh hơn cả nước tôi. Tôi không gọi anh là thuộc địa, mà tôi sử dụng, lợi dụng, tận dụng và khai thác anh như là một thuộc địa.

Thuật ngữ "chủ nghĩa thực dân mới" ("neocolonialism") lần đầu tiên được nêu ra bởi Kofi Ankomah, tổng thống đầu tiên của nước Ghana độc lập, và đã được thẩm định, nghiên cứu, phân tích bởi các nhà chính trị học, học giả và triết gia thế kỷ 20, trong đó có những người có uy tín quốc tế cao như Jean-Paul Sartre và Noam Chomsky.


Kwame Nkrumah, một chiến sĩ cách mạng kiên cường chống chủ nghĩa thực dân cũ, tổng thống đầu tiên của Ghana. Ông còn là một trong những người đầu tiên nghiên cứu và đưa lên khái niệm về chủ nghĩa thực dân mới. Ảnh trên tem thư Liên Xô (1989).

Xét tổng quan ở tầm vĩ mô, thì hình thái xâm lược trong lịch sử thế giới diễn ra chủ yếu bằng 3 hình thức: Thời cổ đại và trung đại là xâm lược công thành chiếm đất, thôn tính, cướp nước rõ ràng, sát nhập nước bị thôn tính vào nước đi thôn tính. Thời cận đại là xâm lược kiểu thực dân (cũ), không chính thức cướp nước bằng cách sát nhập nước này vào nước kia, sát nhập đất đai, nhưng chiếm đóng và dùng chế độ toàn quyền thuộc địa để đô hộ nơi đó, và công khai gọi nơi đó là một "thuộc địa" (colony).

Thời hiện đại chủ yếu là xâm lược kiểu thực dân mới, không chính thức sử dụng chế độ thuộc địa, không công khai gọi nơi đó là một "thuộc địa", thậm chí ngụy quyền bản xứ được dựng lên ở nơi đó có thể có một ít thực quyền nào đó do mẫu quốc ban phát. Nói chung, thực dân cũ là trực tiếp vào làm, thực dân mới là đứng ngoài xem "CEO" làm, và trong trường hợp đặc biệt cần thiết nào đó thì mẫu quốc mới "nhảy" vào.

Đầu tiên, từ thời cổ đại, trung đại đến cận đại, đa số các nước, các đế chế đều thôn tính nhau kiểu công thành chiếm đất, sát nhập quốc gia, đồng hóa hoặc diệt chủng dân tộc.Từ thời cận đại, các đế quốc phương Tây đã xâm lược khắp thế giới bằng chủ nghĩa thực dân cũ. Từ thời hiện đại thì vừa có thực dân cũ, vừa có thực dân mới, hoặc có những thuộc địa kiểu mới nhưng vẫn mang nhiều nét của thực dân cũ (như miền Nam Việt Nam giai đoạn 1964-1973). Nhìn chung, con người tiến hóa, thế giới tiến hóa, thì các thủ đoạn, cách thức, phương pháp xâm lược cũng "tiến hóa" theo. Ngày càng "nhẹ nhàng" hơn, tinh xảo hơn, dễ che đậy hơn.

Đó là nhìn sơ lược về lịch sử thế giới. Còn nếu nhìn cụ thể hơn về lịch sử Việt Nam, thì chúng ta vẫn thấy sự tương đồng. Mỗi thời kỳ lịch sử giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và càng về sau thì càng tinh vi hơn.

Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành một phần của đất Tàu, biến Đại Việt thành một châu quận của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt, không có bộ máy hành chính người Việt, An Nam Đô Hộ Phủ do người Hán cai quản có tất cả quyền hành.

Thực dân Pháp chiếm hữu và trục lợi ở Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai vàng nhưng không có thực quyền. Họ trực tiếp quản lý Việt Nam bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt. Bộ máy hành chính người Việt được thành lập. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền địa phương quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy binh (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng, Quân đoàn Bộ binh Bắc Kỳ, lính Lê Dương gốc Việt, Quân đội Quốc gia Việt Nam, tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này). Họ được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.

Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Việt - Miên - Lào vào nước Pháp, mà chỉ muốn khai thác, bóc lột, vơ vét, xơ múi những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú.

Họ không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố "bảo hộ" (bảo vệ) cho vương quốc An Nam. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp hoặc địa phương. Bộ máy trung ương do người Pháp quản lý.

Đế quốc Mỹ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó nhảy thẳng vào, và từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng mới, may vá lại, thay đổi một vài tay sai, giữ lại biểu tượng “quốc kỳ” và “quốc ca” (cờ vàng ba sọc đỏ và bài "Tiếng Gọi Công Dân" mà bọn tay sai Pháp đã lấy trái phép của nhạc sĩ Việt Minh Lưu Hữu Phước, đổi tên bài hát, cắt xén ca từ, xào nấu nội dung từ ca khúc cách mạng Tiếng Gọi Thanh Niên của tác giả).

Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, đã có sự thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.

Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, giám thị, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, từ địa phương đến trung ương. Giặc không trực tiếp bắt tay vào làm, quân đội chính quốc không cần trực tiếp ra tay như thực dân cũ.

Sự đô hộ thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam dễ ngụy trang hơn, do nó là cuộc xâm lược hình thức mới, sử dụng ngụy quyền để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa "tham chiến giúp đỡ đồng minh". Chứ trên danh nghĩa họ không công khai gọi miền Nam Việt Nam là thuộc địa như thực dân Pháp, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam Việt Nam vào liên bang Mỹ, trở thành một tiểu bang của Mỹ như họ đã làm với Oregon, Hawaii, Texas....

Người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào lúc nào?

Mỹ chỉ hoàn toàn thua cuộc và buông hẳn Ngụy Sài Gòn từ sáng ngày 30/4/1975. Theo hồ sơ SSN/0802 USMC, bản báo cáo After Action Report (Báo cáo Hậu hành động) của thiếu tá lục quân James H. Kean, báo cáo các hành động của Lục quân Hoa Kỳ trong thời gian 17/4/1975 - 7/5/1975 và tác giả George R. Dunham trong tác phẩm US Marines in Vietnam: The Bitter End, 1973-1975 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc cay đắng, 1973-1975), nằm trong loạt sách về lịch sử Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam, do Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ xuất bản năm 1990, tường thuật các hành động của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trong giai đoạn 1973-1975, thì diễn biến như sau:

Ngày 30/4, Martin rời Việt Nam từ 4:58 sáng. 7 giờ sáng những quân nhân cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu rời khỏi Việt Nam. 7:53 sáng chiếc trực thăng chiến đấu cuối cùng của Mỹ chở 10 người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ bay khỏi Việt Nam và đáp xuống căn cứ quân sự USS Okinawa ở Nhật. Sau khi 10 người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, thì đến 11:30 trưa, Dương Văn Minh đầu hàng, ngụy quyền sụp đổ và ngụy quân tan rã. Hai tướng Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam là Fredrick C. Weyand và John Murray, 2 tướng này đã bỏ chạy khỏi Việt Nam ngay từ chiến dịch Mùa xuân 1975, trước chiến dịch Hồ Chí Minh.

oOo


Năm 1964, Mỹ lần lượt đưa 58 vạn quân vào miền Nam Việt Nam là để giữ cho chính quyền bù nhìn của họ khỏi bị sụp đổ. Sau này tổng thống Nixon thú nhận nếu lúc đó Mỹ không đem đại quân vào miền Nam Việt Nam thì chính quyền phục vụ cho họ chắc chắn sẽ sụp đổ. Đến năm 1972, quân Mỹ chết quá nhiều, nhất là sau năm 1968, cả thế giới, cả nước Mỹ và Lưỡng viện Mỹ kêu ca, áp lực, thúc ép, nội bộ chính quyền Mỹ mâu thuẫn trầm trọng, nên đành đốc thúc Phi Mỹ hóa - Việt Nam hóa chiến tranh, tính đến chuyện rút về để quân bản xứ đánh thay tiếp tục.

Bản chất cuộc chiến là xuyên suốt, không nên ngộ nhận rằng có cuộc chiến nào khác chỉ vì Mỹ "đem quân vào, rút quân ra". Đây là một cuộc chiến xuyên suốt từ năm 1954 đến 1975. Đối với chính phủ Hoa Kỳ, chỉ có 1 Vietnam War chứ không có 2 hay 3 cuộc chiến tranh khác nhau.

Một vài bài báo hiện nay vì quá chú ý tuyên truyền tầm vóc vĩ đại của Điện Biên Phủ trên không, nên viết không khéo, dễ gây ngộ nhận rằng sau chiến dịch này Mỹ đã chấm dứt xâm lược, đã buông xuôi, đã không còn cai trị thực dân mới nữa, đã buông ra nước Việt Nam. Gây ngộ nhận rằng cuộc chiến 1954-1975 là có 2 cuộc chiến tranh khác nhau, và sau năm 1973 là "nội chiến". Sự thiếu kỹ lưỡng này vô tình tạo cơ hội cho các thế lực phản động thừa cơ xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc bản chất cuộc chiến. Thiết nghĩ các ngành xuất bản, báo chí và ngành tuyên giáo nên để ý xem xét các trường hợp đó.

Có một thực tế rằng, các thế lực thực dân, đế quốc tuy đánh thua, chết nhiều lính nên mới ký hiệp định rút quân, nhưng bên trong họ không chịu thua mà bao giờ cũng vẫn cố sử dụng ngụy quyền, tay sai bản xứ để tiếp tục xơ múi lợi ích thuộc địa. Cố bám víu quyền lực và quyền lợi, cố giữ vòi bạch tuộc đến phút cuối cùng mới thôi.

Trong trường hợp Pháp cũng như vậy, họ ký hiệp định Genève về Đông Dương rồi rút quân, nhưng vẫn cố sử dụng các tay sai cũ để bám víu miền Nam Việt Nam. Trong thời điểm đó họ vẫn trả lương cho các thế lực quân phiệt, giáo phái và giang hồ ly khai, như Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên.

Mỹ muốn thanh toán nốt các tàn dư của Pháp, hoàn tất việc hất Pháp ra khỏi Đông Dương để mình vào thay hoàn toàn, nên đã "xử đẹp" các lực lượng ăn lương Pháp này. Như vậy, đến khi Mỹ hoàn thành việc hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam thì sự ảnh hưởng chính trị, kinh tế, quân sự của Pháp ở miền Nam mới chấm hết. Chứ rõ ràng không có chuyện tình nguyện ra đi.

Hoa Kỳ tiếng là rút quân năm 1972, nhưng vẫn để lại miền Nam hàng vạn "cố vấn", những quân nhân mặc đồ dân sự, miền Nam vẫn đầy người Mỹ và vẫn do Mỹ kiểm soát, cuộc chiến vẫn do Mỹ chỉ đạo, cố bám víu đến phút chót mới thôi, chiếc trực thăng quân sự chở 10 lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam là vào rạng sáng ngày 30/4/1975.

Như vậy đã rõ ràng, Điện Biên Phủ trên không là một trận đại thắng oanh liệt, trận thắng đó đã mở ra một chương mới trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, là một bước ngoặt tích cực và thuận lợi hơn cho Việt Nam thực hiện các giải pháp hòa bình quy định trong hiệp định Paris hoặc trường hợp các bên kia lật lọng thì tiến tới đánh dứt điểm, giải phóng nốt những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam.

Chứ đó chưa phải là chiến thắng chung cuộc, và không có nghĩa Mỹ rút quân chính quy thì nghĩa là Mỹ thôi xâm lược, các đội quân bản xứ chiến đấu thay Mỹ vẫn còn đó. Chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, "thay màu da xác chết" của Mỹ vẫn còn đó.

Và càng không có nghĩa là Mỹ rút quân thì thời gian sau đó Mỹ-Thiệu trở nên hoàn toàn độc lập riêng biệt với nhau. Không có nghĩa là không còn người Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Không có nghĩa nếu Mỹ buông ra là Thiệu có thể đứng vững hai chân. Không có nghĩa là lính Mỹ không có quay lại miền Nam Việt Nam. Thực tế ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn được Mỹ cưu mang, chỉ đạo chiến tranh, gắn bó máu thịt với nhau. Và miền Nam vẫn đầy người Mỹ, lần này mặc áo dân sự. Chỉ có 1 cuộc chiến tranh và cả Việt Nam và thế giới đều biết kết quả chung cuộc là ở năm 1975 chứ cuộc chiến không kết thúc chính thức ở năm 1973.

Miền Nam giai đoạn 1964-1973 là thực dân cũ hay mới?

Xưa nay quan điểm chính thống trong sách giáo khoa và các giáo trình lịch sử Việt Nam là: Thời Pháp là thực dân cũ, thời Mỹ là thực dân mới. Nhưng nhìn lại thì thấy trong giai đoạn 1964-1973 Mỹ đã đổ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam. Một hành động mà theo cách nói dí dỏm của nhà văn Chu Lai là: "Diễn viên quá tồi nên đạo diễn đành phải đích thân nhảy vào đóng thay."

Nguyên tắc của thực dân cũ là "trực tiếp săn tay áo vào làm", đưa thực binh vào, trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo, quản lý. Nguyên tắc của thực dân mới là "đứng ngoài lãnh đạo và hưởng lợi", không đưa thực binh vào mà dùng quân lực bản địa để chiến đấu thay cho mình, thay màu da xác chết. Người chủ đứng ngoài lãnh đạo, chỉ đạo chung, trả tiền, nuôi dưỡng, không trực tiếp quản lý và chiến đấu.

Thế nhưng trong giai đoạn 1964-1973, Mỹ đã lần lượt đưa trên 55 vạn quân viễn chinh tràn vào Nam Việt Nam, gấp 3 lần quân số của thực dân Pháp trong chiến tranh Pháp - Việt. Người Mỹ trực tiếp chỉ huy, ra lệnh, quản lý, kiểm soát chặt chẽ sâu sát, và đồng thời trực tiếp thân chinh chiến đấu.

Trong thời gian này, người Mỹ, chính trị gia Mỹ, đại quân Mỹ có mặt ở đầy miền Nam Việt Nam và làm cho sinh ra khoảng nửa triệu con lai Mỹ. Trong khi suốt gần 100 năm Pháp thuộc, thời thực dân cũ, cũng chưa thấy tài liệu nào nói tới số lượng con lai Pháp nhiều đến như vậy. Vậy thì giai đoạn 1964-1973 này có khác bao nhiêu so với chế độ thuộc địa của Pháp trước đây? Trong khi ở một số trường hợp mức độ còn khủng khiếp hơn.

Từ những cơ sở trên, có thể tạm kết rằng trong kháng chiến chống Mỹ, giai đoạn 1964-1973 là giai đoạn mang tính chất thực dân cũ. 2 giai đoạn kia, trước năm 1964 và sau năm 1973, thì mới hoàn toàn đúng nghĩa là thực dân mới. Thiết nghĩ giới sử học cũng nên nghiên cứu kỹ các yếu tố này.

(đọc tiếp phần sau)