
(Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên)
Tình hình hiện tại trên bán đảo Triều Tiên
(tiếp theo phần trước)
CHDCND Triều Tiên:
Chính
trường Triều Tiên không có các thế lực đối lập. Diễn biến hòa bình
không lọt vào được. Các thông tin chống đối không có cơ hội phát triển.
Những chóp bu lãnh đạo yếu kém về tư tưởng chính trị, biến chất, tha hóa
về lối sống đều bị đào thải, loại bỏ, thanh trừng, trừ khử. Những quan
chức tham nhũng bằng 1/100 Việt Nam và Trung Quốc thì đã bị tử hình.
Luật pháp nghiêm minh, pháp chế nặng nề. Đây thật sự là một chế độ cảnh
sát trị và trị quốc bằng bàn tay sắt không cần bọc nhung.
Theo
cuốn sách "Cha tôi Kim Jong Il và tôi" viết về Kim Jong Nam, con trai
ông Kim Chính Nhật, của tác giả Yoji Gomi, nhà báo của tờ Tokyo Simbun
của Nhật, từng có nhiều năm làm thông tín viên tại Hán Thành và Bắc
Kinh, thì Kim Jong Nam cho biết nếu không cải tổ thì Bắc Triều Tiên sẽ
sụp đổ.
Để thực hiện cuốn truyện này tác giả Gomi đã nhiều lần
trao đổi với Kim Jong Nam qua thư từ và những lần phỏng vấn trực tiếp
tại Macao, trong đó nhân vật này đã không ít lần đưa ra những nhận định,
dự báo về chế độ Bình Nhưỡng. Người con cả của Kim Chính Nhật đặc biệt
nhấn mạnh, chế độ Bắc Triều Tiên đang phải đối mặt với sự lựa chọn khó
khăn, hoặc là thay đổi, hoặc là sụp đổ. Kim Jong Nam giải thích cái thế
nan giải của chế độ là: "Không có cải cách, nền kinh tế sẽ sụp đổ. Nhưng
cải cách sẽ dẫn tới khủng hoảng chính trị và sự cáo chung của chế độ".
Người
anh cả cùng cha khác mẹ với tân lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Chính Ân,
vào giữa thập niên 1990 từng có cơ hội thừa kế quyền lực của cha, nhưng
sau đó do có một số hành động bộc lộ tư cách không đàng hoàng và tính
cách chỉ biết ăn chơi hưởng thụ, nên bị thất sủng. Từ đầu những năm 2000
đến nay, Kim Jong Nam ra nước ngoài, lập gia đình, có hai con và sống
một cuộc sống vương giả ở Macao.
Trong cuốn sách của nhà báo Nhật
nói trên, Kim Jong Nam còn cảnh báo tình hình "Bắc Triều Tiên rất bất
ổn". Ông nói rằng: "Cha tôi lãnh đạo đất nước bằng chính sách Tiên quân
và sự ủng hộ của quân đội, nhưng quân đội lại có quyền lực quá lớn. Nếu
việc kế thừa quyền hành thất bại, quân đội chắc chắn sẽ nắm thực quyền
và chế độ sẽ biến thành độc tài, quân phiệt".
Trong cuốn sách
này, tác giả cũng đã trích dẫn một bức thư trao đổi với Kim Jong Nam mới
đây, trong đó người trưởng nam của ông Kim Chính Nhật chỉ trích việc
chuyển giao quyền hành theo kiểu cha truyền con nối. Đồng thời, ông cũng
hoài nghi về năng lực lãnh đạo đất nước của người em cùng cha khác mẹ
là đại tướng Kim Chính Ân, vốn còn quá trẻ.
Xã hội quá thắt chặt
về mặt giáo dục và an ninh nên xã hội hiếm có tội phạm. Các tổ chức tội
phạm không thành lập nổi, súng đạn không lưu hành ngoài xã hội (luật
pháp cấm vũ khí, vũ khí lậu không lưu hành nổi, do đặc thù kinh tế và
khả năng kiểm soát kinh tế, chợ đen của nước này), không có tiền để tổ
chức các thế lực đen, dù có manh nha thì cũng bị dập tắt ngay từ trứng
nước.
Đường phố ít người đi, đô thị bao giờ cũng trống trải,
không đi gần nhau nên khó xảy ra trường hợp móc túi, giật dọc, trấn lột.
Vả lại văn minh đô thị ở Triều Tiên, đặc biệt là thủ đô Bình Nhưỡng khá
tốt nên hiếm xảy ra những trường hợp đó. Hơn nữa cảnh sát nổi, cảnh sát
chìm hầu như đâu đâu cũng có, cải trang thành đủ thành phần trong xã
hội. Gần 40% dân số là đảng viên và có gắn huy hiệu Kim Nhật Thành khi
làm việc, khoảng 10% là quân nhân, thuộc làu và thấm nhuần chủ nghĩa Kim
Nhật Thành và tinh thần Chủ thể, nên khó biến chất thành tội phạm.
Bắc
Triều Tiên lâu nay luôn nỗ lực xây dựng thủ đô Bình Nhưỡng như một "tủ
kính" của đất nước, để khoe với du khách và đưa những hình ảnh này ra
trước quốc tế. Xem hình thì thấy rõ thành phố này được quy hoạch rất
tốt, hơn xa Việt Nam dù với bao nhiêu chuyên gia quy hoạch nước ngoài.
Họ có đường phố khang trang, thoáng mát, rộng rãi và sạch sẽ.
Quân
đội CHDCND Triều Tiên được thành lập chính thức vào ngày 8 tháng 2 năm
1948. Tiền thân của nó là lực lượng Quân Tình nguyện Triều Tiên, Quân
Hỗn hợp kháng Nhật vùng Đông Bắc, các lực lượng du kích chống Nhật,
những cựu chiến sĩ người Triều Tiên phục vụ trong Hồng quân của Liên Xô
và Hồng quân Công - Nông của Trung Quốc. Một trong những nhà lãnh đạo
của lực lượng du kích là Kim Nhật Thành, người đã tập hợp một nhóm
khoảng 300 lính du kích Triều Tiên hoạt động chống phát xít Nhật ở Mãn
Châu. CHDCND Triều Tiên có khoảng 3.700 xe tăng, 2.100 xe bọc thép,
4.800 bệ phóng tên lửa, 8.500 pháo tự hành 170 ly và 3.100 thiết bị vượt
sông. CHDCND Triều Tiên có 9 sư đoàn thường trực, 4 sư đoàn cơ giới, 1
sư đoàn tăng, 1 sư đoàn pháo binh.
Lực lượng không quân và hải
quân của CHDCND Triều Tiên không có gì ấn tượng bởi trang thiết bị và vũ
khí đều quá niên hạn sử dụng. Không quân có 30 máy bay ném bom và máy
bay trinh sát, 510 máy bay vận tải bao gồm cả máy bay AN-2s và 310 chiếc
trực thăng. Tuy nhiên, không quân phải huy động khoảng 30 chiếc máy bay
chiến đấu trong tổng số 820 chiếc máy bay tiêm kích để tham gia tuần
tiễu. Hải quân có khoảng 60 tàu ngầm, 420 tàu chiến, 260 tàu vận tải và
60 tàu khác cùng 2 sư đoàn đóng ở vùng biển phía đông và phía tây với 12
đội tàu chiến và 2 lữ đoàn bắn tỉa trên biển đặt dưới sự chỉ huy của Bộ
Tư lệnh Hải quân. Ngoài ra, CHDCND Triều Tiên còn sở hữu khoảng
2.500-5.000 tấn chất độc gây tê liệt hệ thần kinh, sát thương ngoài da,
chất gây nôn và khí cay... Mỹ và Hàn Quốc còn cáo buộc Triều Tiên sở hữu
vũ khí vi trùng và nghi ngờ họ sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Sách
“Sổ tay Triều Tiên” do cơ quan tình báo CIA biên soạn tính toán: Năm
2002, CHDCND Triều Tiên chi cho quân sự 5 tỷ USD, đứng thứ 22 thế giới.
Quân đội Triều Tiên có 1,17 triệu quân thường trực, chiếm 5% dân số,
cộng thêm số quân dự bị đông tới 7,5 triệu người. Báo chí Hàn Quốc thì
cho rằng CHDCND Triều Tiên đã đạt tới trình độ thành thục trong việc sản
xuất các tên lửa tầm ngắn và tầm trung.
Bruce Benard, chuyên gia
nghiên cứu của công ty tư nhân Rant (Mỹ) cũng tính toán: Đến năm 2010,
CHDCND Triều Tiên có từ 70 đến 95 tên lửa Rodong-1, 50 – 75 Rodong-2,
150-200 tên lửa Taepudong-1, 25-50 tên lửa vượt đại châu. Hiện nay
CHDCND Triều Tiên có khoảng 800 quả tên lửa đất đối đất các loại.
Tuy
nhiên, giới quân sự trong và ngoài khu vực đặc biệt quan tâm tới kho vũ
khí hạt nhân cũng như các loại tên lửa khác của CHDCND Triều Tiên. Giới
quân sự đều cho rằng, sau khoảng 30 năm phát triển, công nghệ tên lửa
của CHDCND Triều Tiên đã có những bước tiến đáng kể.
Bắc Triều
Tiên sở hữu tên lửa Scud do Liên Xô chế tạo, có thể mang đầu đạn hạt
nhân, hóa học hoặc sinh học, nhưng sau khi được đưa tới sử dụng tại
CHDCND Triều Tiên một thời gian, các nhà khoa học nước này đã nâng cấp
và biến nó trở thành cơn "ác mộng" đối với những quốc gia hữu quan.
Dù
tiếp nhận tên lửa của Liên Xô từ năm 1969, nhưng những tên lửa Scud đầu
tiên mà CHDCND Triều Tiên có được lại đến từ Ai Cập. Chính Ai Cập đã
giúp CHDCND Triều Tiên nâng cấp, phát triển hệ thống tên lửa của mình.
Đầu những năm 1980, Ai Cập đã cung cấp cho CHDCND Triều Tiên một số tên
lửa Scud-B của Liên Xô, có thể mang đầu đạn nặng tới 200kg cùng tầm bắn
300 km. Nhờ đó các nhà máy nghiên cứu, chế tạo tên lửa được xây dựng gần
biên giới Trung Quốc đã sản xuất thành công loại tên lửa tự tạo đầu
tiên được biết tới dưới tên gọi Hwasong-5.
Năm
1987, CHDCND Triều Tiên đã ký với Iran một hợp đồng mua bán vũ khí với
tổng trị giá 500 triệu USD, trong đó có khoảng 100 tên lửa Hwasong-5.
Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất cũng từng mua 25 tên lửa Hwasong-5
cùng một số vũ khí khác của CHDCND Triều Tiên.
CHDCND Triều Tiên
đã phát triển hai phiên bản mới từ Scud-B thành Scud-C (Hwasong-5) và
Scud-D (Hwasong-6). Trong khi Scud-B chỉ bắn ở cự ly 300km thì Scud-C
bắn được 500km, còn Scud-D có thể bắn mục tiêu cách xa 700 km. Ngoài ra,
CHDCND Triều Tiên còn thử nghiệm loại tên lửa KN-02 có thể bắn tới
những mục tiêu ở Hàn Quốc. Sau đó, CHDCND Triều Tiên còn phát triển Scud
thành Nodong, Taepodong-1 và Taepodong-2. Tên lửa Taepodong-1 tuy bắn
tới Nhật Bản, nhưng không nguy hiểm bằng loại tên lửa Nodong (Rodong).
Với tầm bắn 2.000 km, các tên lửa Nodong có thể phá hủy bất cứ mục tiêu
nào của Nhật Bản và bất cứ căn cứ quân sự nào của Mỹ trên lãnh thổ Nhật.
Theo
nghiên cứu của một trung tâm hạt nhân Mỹ, Nodong có độ chính xác không
cao - sai số từ 2 km đến 4 km so với mục tiêu. Tuy bắn không chính xác
nhưng Nodong luôn là mối quan tâm hàng đầu của Nhật Bản bởi quốc gia này
nằm trọn trong phạm vi "phát huy hiệu quả" của tên lửa này. Nhiều
chuyên gia quân sự của Nhật Bản từng khẳng định, các loại tên lửa của
CHDCND Triều Tiên dư sức tấn công Nhật Bản, Hàn Quốc, cũng như các căn
cứ quân sự Mỹ đặt trên lãnh thổ 2 quốc gia kể trên. Triều Tiên thì tuyên
bố họ có thể thiêu rụi Tokyo và Seoul thành "tro bụi" chỉ trong tích
tắc, và có thể bắn tới Hawaii và Alaska của Mỹ nếu muốn.
Kể từ
khi CHDCND Triều Tiên bắn thử tên lửa Nodong có khả năng mang đầu đạn
hạt nhân vào tháng 3/1993, loại vũ khí này nhanh chóng chiếm vị trí quan
trọng trong kho vũ khí của họ. Sau đó, Triều Tiên còn mời chuyên gia
quân sự Iran và Pakistan tới quan sát vụ bắn thử tên lửa Nodong. Được
biết, tên lửa Nodong có thể mang theo một đầu đạn nặng 1.200 kg cùng tầm
bắn 1.300 km, hoặc một đầu đạn nặng 1.000kg với tầm bắn 1.500km. Có tin
nói rằng, tên lửa Ghauri (còn gọi là Hatf-5) của Pakistan được nghiên
cứu, chế tạo thành công sau khi mua tên lửa Nodong của CHDCND Triều
Tiên.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc từng cho rằng CHDCND Triều Tiên sở
hữu khoảng 600 tên lửa Scud và 100 tên lửa Nodong. Trong khi đó các nước
phương Tây lại tuyên bố, CHDCND Triều Tiên sở hữu hơn 800 tên lửa đạn
đạo các loại, trong đó bao gồm cả Taepodong-2. Nhưng theo thông tin của
Mỹ thì CHDCND Triều Tiên sở hữu hơn 1.000 tên lửa Nodong và tên lửa
Scud. Ngay từ năm 1965, Chủ tịch Kim Nhật Thành lúc đó đã cho thành lập
Học viện Quân sự Hamhung để nghiên cứu công nghệ tên lửa nhằm sản xuất
loại tên lửa có khả năng bắn tới Nhật Bản.
Giới truyền thông từng
đưa tin, tướng Park Jae-kyung, tướng Hyun Chul-hee và tướng Lee
Myong-su, 3 người thường xuất hiện bên cạnh Chủ tịch Kim Chính Nhật
chính là những "cha đẻ" của chương trình vũ khí chiến lược hạt nhân và
tên lửa tại CHDCND Triều Tiên. Ngoài ra, còn phải kể tới 2 nhà bác học
Do Sang-rok và Seo Sang-guk. Cả 2 nhà bác học này đều từng giảng dạy tại
Trường đại học Kim Nhật Thành cho dù họ hơn kém nhau tới 30 tuổi. Được
biết, ông Do Sang-rok tuy sinh năm 1903 tại CHDCND Triều Tiên nhưng lại
trưởng thành ở Hàn Quốc sau đó quay trở lại CHDCND Triều Tiên từ năm
1946 và đã chết năm 1990.
Ông Do Sang-rok được Chủ tịch Kim Nhật
Thành và Kim Chính Nhật đặc biệt coi trọng, quý mến. Còn ông Seo
Sang-guk được coi là người đi đầu trong việc chế tạo bom hạt nhân và
từng được Kim Chính Nhật tặng quà năm 1998 vì những cống hiến cho công
cuộc phát triển khoa học quốc gia.
Quân đội vừa đông đảo vừa tinh
nhuệ, huấn luyện tốt. Tuy nhiên, một số vũ khí, nhất là xe tăng, thiết
giáp đã lỗi thời và khá cũ kỹ. Có dàn phòng thủ tốt, vô số dàn tên lửa
tầm ngắn, tầm xa đang chỉa thẳng vào các hải đảo, vùng biên giới của Hàn
Quốc và cả Seoul, Tokyo, và có thể cả Hawaii và Alaska như họ tuyên bố.
Đây là điều mà Mỹ - Nhật - Hàn rất ngán và chưa dám vọng động, gây
chiến là vì vậy. Dù chiếm được Triều Tiên thì họ cũng sẽ phải trả một
giá rất đắt, kinh tế vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau khủng hoảng có thể
sẽ sụp đổ hoàn toàn, đưa tới thảm họa kinh tế khu vực và toàn cầu, lợi
bất cập hại. Chưa kể Triều Tiên khá cuồng tín và bao giờ cũng sẵn sàng
"lưỡng bại câu thương".
Hầu hết các vũ khí hạng nhẹ và cả hạng
nặng của Triều Tiên là tự sản xuất, kể cả các vũ khí cá nhân và đặc biệt
là các hệ thống tên lửa, vũ khí chiến lược của họ. Ngoài ra, họ còn có
lực lượng vũ khí đặc biệt, cấu thành từ 2 bộ phận: Tác chiến và phòng
chống chiến tranh hóa học; tác chiến và phòng chống chiến tranh sinh
học. Hiện nay bộ phận này có hàng ngàn đạn pháo mang tác nhân sinh hóa,
cũng như nhiều vũ khí sinh hóa có khả năng hủy diệt hàng loạt.
Để
đối phó với những kẻ địch có sức mạnh quân sự, có thực lực kinh tế, có
trình độ phát triển, và quân số cao hơn gấp nhiều lần, họ đã thực hiện
chiến lược "chiến tranh phi đối xứng" (Asymmetric warfare) và chiến
tranh không quy ước để chống lại những quân thù mạnh hơn, bằng cách sử
dụng những khoa học kỹ thuật công nghệ và vũ khí đặc biệt, độc đáo như
hệ thống phá (jam, gây nhiễu) định vị toàn cầu và sóng ra-đa, sơn ngụy
trang tàng hình (một loại hóa chất đặc chế để tránh bị ra-đa phát hiện),
tàu ngầm lưu động, ngư lôi cảm tử, và nhiều vũ khí hóa học, sinh học và
tia laser, bất chấp lệnh cấm phát triển vũ khí laser của Liên Hiệp Quốc
(mà CHDCND Triều Tiên là 1 thành viên) và việc họ đã ký vào Hiệp ước
không phổ biến vũ khí sinh học.
Họ cũng đã chuẩn bị sẵn sàng cho
những cuộc chiến tranh hóa học, chiến tranh khí tượng, chiến tranh điện
tử mà Mỹ đã áp dụng tại Việt Nam và nhất là rất thành công ở Iraq (chiến
tranh điện tử, gây tê liệt cho các vũ khí cần dùng hệ thống điện tử của
Iraq, hầu hết các vũ khí mua từ Pháp của Iraq đều trở nên bất khiển
dụng khi Mỹ mở cuộc đột kích bất ngờ).
Ngoài ra, họ cũng nghiên
cứu và phát triển áp dụng chiến tranh mạng với Mỹ, có một số thông tin
từ Mỹ cho rằng họ đã bí mật nghiên cứu chung với các lực lượng khủng bố
Hồi giáo cực đoan về chiến tranh mạng với Mỹ. Đây là một lợi thế của họ,
vì ở nội địa Bắc Triều Tiên không phổ biến mạng lưới Internet. Tương tự
như chiến trường ngoài đời, trên chiến trường online trên Internet giữa
các hackers, họ không có nhiều thứ để mất, trong khi Mỹ - Hàn - Nhật có
rất nhiều thứ để mất. Chỉ một vài website giao dịch, của các tập đoàn
kinh tế lớn, của chính phủ, nhà nước v.v. sụp đổ, tê liệt lâu ngày và
liên tục thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế, đây gần như là vấn đề
sinh tử của các nước có nền kinh tế thị trường.
Từ thập niên
1980, trong lúc Internet chỉ mới được sử dụng hạn chế trong quân đội Mỹ,
chưa dân sự hóa, xã hội hóa, thì các điệp viên Triều Tiên đã tiến hành
nghiên cứu và Bộ quốc phòng Bắc Triều Tiên đã bắt đầu phát triển dự án
chiến tranh mạng. Tới năm 2011, Bắc Triều Tiên đã đào tạo được khoảng
1100 hacker quân sự, hackers đặc biệt. Đó là lý do lâu nay CHDCND Triều
Tiên luôn ưu tiên cho những học sinh, sinh viên có năng khiếu về kỹ
thuật vi tính, ai bộc lộ tài năng về máy tính thì sẽ được chú trọng đào
tạo về chuyên môn này và được miễn nhiều môn học khác.
Ngoài ra,
Hoa Kỳ cũng từng cáo buộc, kết tội Bắc Triều Tiên và Iran đã âm mưu tiến
hành một cuộc chiến tranh ngầm, cuộc chiến tranh kinh tế để chống lại
nước này bằng cách in "siêu đô la" (tờ $100 đô la Mỹ, tiền giả như thật,
tiền giả siêu cấp chỉ có 1 ngân hàng trung ương của chính phủ Mỹ mới có
máy phát hiện), hòng phá hoại nền kinh tế của Mỹ, nhất là trong các
thời kỳ khủng hoảng.
Ngoài một vài nước như Trung, Nga, và vài
nước trung lập ở châu Âu, Nam Mỹ, họ bất lực trong việc thiết lập được
quan hệ ngoại giao rộng rãi với các nước khác. Do bị các cường quốc thao
túng, ngồi trên đầu trên cổ, chèn ép, cấm vận, cô lập, họ phản kháng
bằng lý thuyết Chủ thể của Kim Nhật Thành và áp dụng một chính sách
"cứng chọi cứng", tự cô lập bản thân, đóng cửa. Cùng với những tuyên bố
ngoại giao không mấy khôn khéo và có phần cực đoan quá khích, dễ bị lợi
dụng làm công cụ tuyên truyền chống họ.
Xã hội trật tự, kỷ cương,
kỷ luật sắt, nề nếp đâu ra đó. Ít tội phạm, ít tệ nạn, tệ đoan, buôn
lậu, không có nạn ma túy, không có súng đạn bất hợp pháp, không mại dâm,
không có bệnh Sida (theo phỏng vấn của một số phóng viên phương Tây ở
Triều Tiên, nhiều người dân và chiến binh còn không biết bệnh Sida là
bệnh gì, và không hề có khái niệm về đồng tình luyến ái). Môi sinh không
bị ô nhiễm. Không kẹt xe. Ít tai nạn giao thông. Không người bụi đời vô
gia cư, ăn mày, thất học, chỉ có dưới 1% mù chữ.
Nhưng trái lại
quá mất tự do cá nhân, gần như biến con người thành những người máy.
Điện thoại di động và Intranet có, nhưng không có đầy đủ Internet (có
một ít trang mạng cho người nước ngoài đọc nhưng người trong nước không
thể truy cập các trang mạng nước ngoài). Nghe phong thanh rằng bên trong
Triều Tiên cũng có thể truy cập các trang web bên ngoài nhưng bị hạn
chế, chỉ dành cho các nhân viên ngoại giao của chính phủ.
Bắc
Triều Tiên xem chế độ gia đình là dấu vết phong kiến, và là một định
chế, phong tục tập quán đã lỗi thời. Kim Nhật Thành từng nói: “Gia đình
phải là một phòng thí nghiệm thực thi lý thuyết cách mạng xã hội." Tại
Bắc Triều Tiên, trẻ em từ 3 tháng đến 5 tuổi được các ký nhi viện của
chính phủ chăm sóc, từ 6 tuổi trở lên được đào tạo trong các trường học
do chính phủ cung cấp.
Xã hội không có văn hóa lai căng từ ngoại
quốc truyền vào. Về cơ bản vẫn giữ nguyên văn hóa truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Cao Ly. Không "lộ hàng", không porn, không clip quay lén,
không có những scandal xấu, nhìn chung cả xã hội có vẻ lành mạnh, không
bị ô nhiễm bởi văn hóa tiêu cực, hiện sinh, yêu cuồng sống vội, quan hệ
bầy đàn của phương Tây. Phim ảnh, sách báo khiêu dâm, truyện con heo,
nha phiến, thuốc lắc v.v. không có môi trường phát triển. Không có các
vũ trường thác loạn, nhưng vẫn có một số vũ trường hoạt động hạn chế,
khiêu vũ như thời 1970, 1980, chủ yếu dành cho du khách nước ngoài. Tuy
nhiên có phần bó buộc và thiếu tự do.
Căn cứ vào các clip trên
Internet du khách nước ngoài quay trong các trường lớp Triều Tiên, thì
có thể thấy các lớp học của họ rất ngăn nắp, sạch sẽ, trật tự. Thầy cô
và học sinh đều vui vẻ tươi cười, hoạt bát nói chuyện, thông thạo Anh
văn. Các bàn ghế gỗ mới. Nhiều phòng đại học có trang bị máy vi tính,
laptop cho mỗi bàn học, đặc biệt là trường đại học Kim Nhật Thành, đại
học chất lượng nhất cả nước, dành cho những học viên trung thành và ưu
tú nhất trên toàn quốc. Các trường lớp có vẻ cũng đạt tiêu chuẩn quốc
tế. Trường này có cả hệ thống hồ bơi được thiết kế khá đẹp mắt.
Theo
hồ sơ về CHDCND Triều Tiên trong thư viện Quốc hội Mỹ (Library of
Congress), thư viện lớn nhất nước Mỹ và một trong những thư viện lớn
nhất thế giới, thì giáo dục tại CHDCND Triều Tiên là miễn phí cho đến
hết đại học và bắt buộc cho đến trung học, từ năm 1990 bắt đầu cung cấp
đồng phục miễn phí cho học sinh và sau đó là một vài y phục miễn phí cho
toàn dân, luật Triều Tiên bắt buộc mỗi người dân ra đường phải ăn mặc
tươm tất, để làm đẹp quốc gia, thành phố, nhất là trước con mắt và ống
kính của khách du lịch và phóng viên quốc tế. Cách giáo dục áp dụng khả
năng nghiệm suy để học sinh tích cực trong việc phát triển tính độc lập
và sáng tạo của mình. Giáo dục bắt buộc kéo dài mười một năm, bao gồm
một năm mẫu giáo, bốn năm giáo dục tiểu học và sáu năm giáo dục trung
học.
Tại tiểu học, 8% của chương trình học là về chủ tịch Kim
Nhật Thành và đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng. Tại trung học, các
môn học về chủ tịch Kim Nhật Thành, đạo đức công dân, đạo đức cộng sản,
và Cương lĩnh của Đảng Cộng sản chiếm 5,8%. Cao học không bị bắt buộc
tại CHDCND Triều Tiên. Nó chia thành hai hệ thống: Học tập giáo dục đại
học và học giáo dục đại học để tiếp tục học cao hơn. Học tập giáo dục
đại học bao gồm ba loại trường đại học, trung học chuyên nghiệp, và
trường kỹ thuật. Tốt nghiệp thạc sĩ và nghiên cứu cấp tiến sĩ thuộc về
trường đại học, hai trường đại học chất lượng cao đáng chú ý ở Triều
Tiên là Đại học Kim Nhật Thành và Đại học Khoa học và Công nghệ Bình
Nhưỡng, cả hai đều ở Bình Nhưỡng.
Trường Đại học Kim Nhật Thành
gồm rất nhiều khoa như: Kinh tế, lịch sử, triết học, luật, ngoại ngữ
(chủ yếu chú trọng vào tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung), văn học, địa
lý, vật lý, toán, hóa, năng lượng hạt nhân, sinh học, và khoa học máy
tính. Để bắt kịp thời đại thông tin, sinh viên đại học nào có tài về máy
tính sẽ được miễn nhiều môn như lý, hóa, sinh, ngoại trừ môn học chính
và môn "Lịch sử cách mạng của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật".
Bởi
vì sự nhấn mạnh vào việc giáo dục liên tục cho tất cả các thành viên
của xã hội nên việc giáo dục học tập khi trưởng thành hoặc làm việc
nghiên cứu luôn được hỗ trợ tích cực. Trên thực tế, tất cả mọi người
trong nước tham gia trong một số hoạt động giáo dục, thường là dưới hình
thức "nhóm nghiên cứu nhỏ".
Đầu những năm 1990, người dân ở các
vùng nông thôn đã được tổ chức vào "gia đình năm người", những nhóm này
có chức năng giáo dục và giám sát. Nhân viên văn phòng và nhà máy có hai
giờ để học thêm sau khi làm việc mỗi ngày về các chủ đề chính trị và kỹ
thuật. Các "nhà máy kiến thức" được mở cho các công nhân học thêm các
kỹ năng mới mà không cần phải nghỉ việc. Học sinh làm việc bán thời
gian, nghiên cứu vào buổi tối, hoặc có những khóa học ngắn hạn chuyên
sâu, có thể nghỉ làm việc trong một tháng hoặc lâu hơn. Các "nông trang
kiến thức" cũng được mở nơi lao động nông thôn có thể học để trở thành
kỹ sư và trợ lý kỹ sư. Đối với công nhân và nông dân không nhận được
giáo dục phổ thông thì có "trường học cho người lao động" và "trường dạy
nghề cấp cao người lao động".
Học sinh trung học phải làm việc
ít nhất từ 8 đến 10 tuần lễ mỗi năm tại các xí nghiệp, các cơ sở kỹ
nghệ. Ngoài những cơ sở giáo dục thường, đại học xí nghiệp được thành
lập để đào tạo nhân công không có trình độ giáo dục phổ thông. Năm 1965,
Bắc Triều Tiên có 37 trường Đại học Xí nghiệp với hơn 12.000 sinh viên,
năm 1975, 80 trường với trên 23.000 sinh viên. Đại học Kim Nhật Thành,
Hàn lâm viện Khoa học, Hàn lâm viện Khoa học Xã hội là những cơ sở giáo
dục và nghiên cứu cao cấp, chất lượng tốt.
Nhà nước CHDCND Triều
Tiên tổ chức 8.600 Vườn trẻ năm 1970 với khoảng 1,2 triệu trẻ em, 6.800
trường mẫu giáo với khoảng 950.000 em, đến năm 1980 số lượng Vườn trẻ và
mẫu giáo lên đến 60.000. Triều Tiên còn trao đổi sinh viên và giáo sư,
giáo viên với các nước như Liên bang Xô viết, Trung Quốc, Cuba, và các
nước Đông Âu để du học, giảng dạy, nghiên cứu. Các giáo viên, chuyên
gia, du sinh nước ngoài đều công tác và học hành trong Trường Đại học
Kim Nhật Thành.
Theo hồ sơ công khai "The World Factbook" của cơ
quan CIA năm 2009, Bắc Triều Tiên là một trong những quốc gia có học
thức cao nhất trên thế giới, với một tỷ lệ biết chữ trung bình là 99%.

(Hán Thành, thủ đô của Hàn Quốc)
Hàn Quốc:
Tình
hình chính trị của họ nhìn chung là khá ổn định nhưng nội bộ thường dễ
mất đoàn kết, tranh giành quyền lực, tố nhau khá nhiều, đôi khi dùng
những thủ đoạn dơ bẩn (dirty tactics) để ám hại nhau. Ai bất lợi cho Mỹ
và phương Tây hầu như chỉ tồn tại được 1 nhiệm kỳ, sau đó đều "thất cử".
Nạn
bạo hành đường phố, giật đồ, móc túi, trộm cắp, cướp bóc, trấn lột giữa
ban ngày vẫn hoành hành. Những vụ án cướp của giết người, cưỡng hiếp,
xâm hại tình dục xảy ra thường xuyên. Kinh tế phát triển cao nhưng đạo
đức và các giá trị truyền thống càng lúc càng suy đồi và xuống thấp.
Nhiều người bị nói xấu trên blog, bị gởi thơ đe dọa, đeo bám khủng bố
tâm lý, khiến họ không chịu nổi phải tự tử. Hàn Quốc là một trong những
quốc gia có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới, nhất là trong giới nghệ sĩ,
giải trí, hot boy, hot girl. Nhiều người bị bắt cóc biệt tích, đến nay
vẫn không có tung tích. Trong số các nạn nhân có cả người Việt ở Hàn
Quốc. Hầu hết đều bị mất tích một cách kỳ lạ và cảnh sát bất tài vô dụng
không điều tra ra (hoặc giả có nguyên nhân mờ ám nào đó). Người Hàn
Quốc bị bắt cóc nhiều nhất, sau là người Nhật. Các báo chí, truyền thông
chính thống của Hàn Quốc thường quy kết và cáo buộc Bình Nhưỡng đã làm
những hành động khủng bố này nhưng không có bằng chứng rõ ràng. Lạ một
điều là hầu hết những nạn nhân bị bắt cóc đều là người châu Á (Hàn,
Nhật, Hoa, Việt), hiếm có người phương Tây nào bị, và không có người Mỹ
nào bị. Trong khi ở Bắc Triều Tiên, vốn thường được coi là "nơi nguy
hiểm" thì lại chưa có ngoại kiều nào bị bắt cóc, cho thấy ở Nam Triều
Tiên cũng không hẳn là an lành.
Quân đội Hàn Quốc, tên chính thức
là Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc, ban đầu được xây dựng từ những tân binh,
dân binh, nghĩa binh, lực lượng tự vệ được chính quyền mới của Lý Thừa
Vãn tuyển mộ. Tuy nhiên, quân đội này đã bị quân đội Triều Tiên đánh tan
trong giai đoạn 1 của cuộc chiến Triều Tiên. Sau trận tử thủ Phú Sơn,
quân đội này về cơ bản đã tan rã, Mỹ và Liên Hiệp Quốc phải nhảy vào
tiếp cứu. Trong giai đoạn 2 của cuộc chiến Triều Tiên, quân đội này
không còn bao nhiêu thực lực.
Sau khi Hiệp định đình chiến được
ký (16/5/1953), quân đội Hàn Quốc được tái thành lập và xây dựng lại từ
đầu. Đến nay nước này có một lực lượng quân sự mạnh với mức đầu tư trong
10 nước đứng đầu (tính theo GDP). Lục quân Hàn Quốc có 670.000 binh sĩ,
trong đó 140.000 lính nghĩa vụ và 4 triệu quân dự bị (theo thống kê của
năm 2006). Số quân trên được phiên chế thành 3 quân đoàn, 11 binh đoàn,
49 sư đoàn và 19 lữ đoàn. Lục quân sở hữu 4.850 xe tăng, xe thiết giáp
(trong đó đáng chú ý có loại T-80U, M48 Patton, K1, K1A1, K2 và XK2
Black Panther). 10.774 pháo các loại, 7.032 tên lửa (trong đó đáng chú ý
có Patriot, MIM-23B Hawk và 3 loại tên lửa vác vai là Stinger của Mỹ,
Mistra của Pháp và Javelin của Anh). Họ còn có khoảng 13.000 vũ khí bộ
binh khác. Phương tiện chiến đấu chủ yếu của Hàn Quốc là xe tăng đổ bộ
K-200 (KIFV) được thiết kế dựa trên phiên bản AIFV của Mỹ và được đưa
vào hoạt động năm 1985.
Hải quân Hàn Quốc có 68.000 binh sĩ,
trong đó có 25.000 thủy quân lục chiến cùng 170 tàu chiến các loại. Hải
quân được chia thành 3 hạm đội. Do có Hạm đội 7 của Mỹ đóng gần Nhật Bản
nên Hàn Quốc không chú trọng phát triển lực lượng hải quân. Nhiệm vụ
chủ yếu của hải quân là phòng vệ ven biển. Tuy nhiên, Hàn Quốc thời gian
gần đây rất chú trọng tăng cường sức mạnh cho lực lượng hải quân. Họ có
hơn 20 tàu ngầm và 69 tàu chiến trên mặt nước
Không quân Hàn
Quốc có hơn 600 máy bay các loại, trong đó có loại F-15K Slam Eagle do
Boeing sản xuất và T-50 Golden Eagle. Họ chủ yếu được trang bị bằng máy
bay sản xuất từ Mỹ, nhưng Hàn Quốc thời gian gần đây đã phát triển ngành
công nghiệp sản xuất máy bay riêng của mình. Họ có 460 máy bay chiến
đấu và máy bay trực thăng, trong đó có 195 chiếc F-5 và 60 chiếc F-16,
một số được lắp đặt trong nước. Quân đội Hàn Quốc có nhiều máy bay chiến
đấu và vận tải. Hải quân cũng sở hữu phi đội bay hùng hậu.
Nhờ
ưu thế của một nền kinh tế lớn nên quân đội Hàn Quốc luôn nằm trong danh
sách những quốc gia đầu tư lớn cho quốc phòng, thậm chí có thời kỳ nước
này nằm trong top 10 nước đứng đầu thế giới về ngân sách quân sự.
Theo
phân tích của nhiều chuyên gia quân sự, Hàn Quốc sẽ sớm trở thành một
trong 10 quốc gia xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới. Khách hàng chủ yếu
của Hàn Quốc là những quốc gia thuộc khu vực Trung Đông và đồng minh
của Mỹ và họ chủ yếu mua súng tự động, máy bay và tàu hải quân.
Đây
là một quân đội hùng mạnh trên giấy, thiện nghệ trong quân trường, tinh
nhuệ trong tập trận. Nhưng chưa ai biết khi vào thực chiến thì sẽ thể
hiện một phong độ chiến đấu ra sao. Kim Chính Nhật từng nói đại ý "đám
bát nháo quân đội thuộc địa Hàn Quốc chỉ là những con hổ giấy không có
gì phải sợ". Công nghiệp, quân đội, ngân sách, thực lực quốc phòng mạnh,
khoảng 80% vũ khí tự sản xuất. Quân số, tỷ lệ quân - dân, tỷ lệ phần
trăm ngân sách quốc phòng cũng thuộc loại cao. Vũ khí tối tân. Trang bị
đầy đủ, hiện đại. Huấn luyện tốt, khoa học. Tinh thần và lý tưởng chiến
đấu là một dấu hỏi, có đụng trận mới biết thấp cao.
Về công tác
ngoại giao, Hàn Quốc khá khôn khéo và có quan hệ tốt đẹp và sâu rộng với
hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Trung Quốc, Nga, và
Việt Nam. Họ có vị thế vững chắc và khá cao trong Liên Hiệp Quốc và trên
trường quốc tế. Tuy nhiên, họ yếu bóng vía trước Mỹ, nhường nhịn, lép
vế Mỹ, làm gì cũng phải ngó mặt Mỹ, tham khảo ý kiến Mỹ.
Họ có
nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới và thứ 3 châu Á. Tuy nhiên, cũng như bao
nhiêu nền kinh tế tư bản khác, để cho tài phiệt tư bản, tư sản mại bản,
tư bản nước ngoài nhiễu loạn, thao túng thị trường, do đó họ bị ảnh
hưởng rất nặng nề và trực tiếp từ sự khủng hoảng kinh tế tư bản ngay khi
nó mới bắt đầu lan ra từ Mỹ. Có phần tự do kinh tế quá trớn và kiểm
soát kém, vai trò nhà nước không rõ ràng. Vụ thịt bò điên Mỹ được nhập
khẩu Hàn Quốc bất chấp bao nhiêu cuộc biểu tình phản đối, cho thấy lợi
ích của người dân Hàn, của tư sản dân tộc Hàn vẫn nằm dưới lợi ích tư
bản phương Tây, đặc biệt là tư bản Hoa Kỳ.
Nếu như bên Triều Tiên
cực đoan thắt chặt mọi thứ nhưng bù lại đưa ra kết quả khả quan về an
toàn xã hội, an ninh văn hóa, thì Hàn Quốc cũng cấm đoán về chính trị,
cấm cản, chặn website, đặt tường lửa các trang web thân Cộng, thân Triều
Tiên, chống Hàn, các sách báo về chủ nghĩa Marx, nhưng các đặc điểm xã
hội về môi trường, chống tệ nạn, an ninh, chống tội phạm, chống ma túy,
thậm chí cả nếp sống văn minh đô thị cũng không bằng Triều Tiên.
Khi kinh tế phát triển cũng là lúc xã hội Hàn Quốc bắt đầu thay đổi, với những hiện tượng sau:
1. Tư tưởng truyền thống và đạo đức xã hội ngày càng xuống, xuất hiện khuynh hướng lai căng hóa, Mỹ hóa, Tây hóa.
2. Dân số kỹ nghệ ngày càng cao.
3.
Biến chuyển xã hội nhanh chóng, nhịp sống nhanh hơn, xuất hiện lối sống
gấp sống vội, và sự xuất hiện của giai cấp bóc lột mới, thụ hưởng trên
sự lao động của công nhân.
4. Thành thị hóa và sự di chuyển dân thôn quê đến thành thị.
5. Tầng lớp trung lưu xuất hiện.
6. Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị ngày càng thu hẹp. Nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng.
7.
Tuy phụ nữ chưa đạt được vị thế nam nữ bình quyền, nhưng vai trò của họ
ngoài xã hội cũng như trong gia đình có tiến bộ nhiều. Vị thế của phụ
nữ ngày càng nâng cao. Tuy nhiên tình trạng bán dâm kiểu mới và các
đường dây mại dâm cao cấp bao gồm đa số diễn viên, ca sĩ, hoa hậu, á
hậu, nhân vật của công chúng v.v. vẫn hoành hành. Rất nhiều phụ nữ là
nạn nhân của bạo hành, cưỡng dâm, cưỡng bức tình dục trong điện ảnh,
dùng tình dục đổi vai diễn, bằng cấp, danh vọng, tiếng tăm, tiền tài,
vật chất và một số quyền lợi khác trong xã hội. Nhiều phụ nữ đã tự sát
hoặc bị mưu sát vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những phụ nữ của
công chúng. Hàn Quốc là một trong những nơi có tỷ lệ người tự sát cao
nhất thế giới. Đời sống tình dục "thoáng" hơn, buông thả hơn, đức hạnh,
trinh tiết không còn là một đức tính được xem trọng, mặc dù mức độ ly dị
vẫn thấp so với mặt bằng thế giới, vì thế tỷ lệ ngoại tình tăng cao,
đưa đến tỷ lệ đánh ghen, những vụ án ẩu đả, hành hung, đâm chém, đấu
súng, giết người, đốt nhà, hãm hại, án mạng vì ghen tuông cũng tăng
theo. Những phụ nữ quan hệ tình dục với người Mỹ, lính Mỹ bị dư luận xã
hội tẩy chay. Trẻ em có cha Mỹ bị dư luận xã hội khinh bỉ, mặc dù không
có sự bất bình đẳng trong chính sách chung.
8. Quan niệm, tác phong, phong thái hiện đại của xã hội mới, dần xa rời những lối mòn và hủ tục phong kiến, mê tín dị đoan.
Trong
công việc quản lý văn hóa xã hội, họ cũng có những nỗ lực cấm đoán.
Đăng ký blog phải điền lý lịch thật ngoài đời, các thông tin liên lạc
thật, phải có thẻ căn cước cá nhân (ID)... Youtube Hàn Quốc có dạo bị
chặn không thể truy cập. Nhưng vẫn là một xã hội khá xô bồ, một bộ phận
thác loạn, có một dạo các nhân vật VIP trong làng giải trí đua nhau tự
tử, và tình trạng tự tử này hiện vẫn còn. Văn hóa thiếu lành mạnh. Công
nghiệp mại dâm, tình dục, phim porn, sách báo khiêu dâm (trong đó có cả
truyện tranh dành cho thiếu nhi, gồm cả truyện Hentai khiêu dâm Nhật
truyền vào Hàn Quốc) vẫn có đầy ở Hàn Quốc. Những văn hóa, văn hóa phẩm
tiêu cực, độc hại ở Hàn Quốc hiện lây lan sang nhiều nước khác, trong đó
có cả Việt Nam, đây là một vấn đề báo động.
Đa số người Triều
Tiên theo Phật giáo, nhưng chính quyền Hàn Quốc lại thiên vị Tin Lành,
do họ từng góp sức nhiều trong phong trào chống Nhật trong thời kỳ bị đô
hộ, từng giúp đỡ, nuôi giấu nhiều chính trị gia, nhân sĩ, trí thức hoạt
động kháng Nhật. Lý Thừa Vãn, tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân Quốc
cũng theo đạo Tin Lành và có những chính sách biệt đãi, thiên vị cho Tin
Lành ngay từ đầu. Sau đó nhiều tổng thống kế nhiệm cũng theo Tin Lành
và có nhiều chính sách ưu đãi, ưu tiên cho tôn giáo này. Do đó mà ở Hàn
Quốc thỉnh thoảng vẫn xảy ra các biểu tình lớn của giới Phật giáo, gồm
các nhà sư, tăng ni và các Phật tử chống chính phủ, nhất là trong thời
Lý Minh Bác, vốn cũng là một tín đồ Tin Lành. Đa số các cuộc biểu tình
này không chỉ chống Tin Lành, chống Lý Minh Bác, chống chính phủ Hán
Thành, chống chính sách của chính phủ, chống sự bất công về tín ngưỡng,
đòi tự do tôn giáo, bình đẳng tín ngưỡng, mà họ còn chống cả sự tồn tại
quân sự và chính trị của Hoa Kỳ trên đất Hàn Quốc, họ cho rằng chính phủ
Mỹ theo chủ nghĩa tư bản vật chất và thiên vị Thiên Chúa giáo nên muốn
chống Phật giáo Hàn Quốc, đặc biệt dưới thời tổng thống Bush (cả cha và
con).
Giáo dục ở Hàn Quốc có chất lượng rất cao. Đạt tiêu chuẩn
quốc tế. Nhiều trường không thua kém các nước phương Tây. Nền giáo dục
hầu như mô phỏng rập khuôn Mỹ, tuy nhiên đó chưa chắc là điều không tốt.
Rất nhiều sinh viên Việt Nam đã, đang, và có kế hoạch sẽ nghiên cứu, du
học tại Hàn Quốc.
Tương lai mờ mịt của bán đảo Triều Tiên
Có
lẽ Mỹ sẽ không bao giờ dám động thủ với Triều Tiên như đã từng với
nhiều nước khác trên thế giới. Không ai rõ bao nhiêu dàn tên lửa đang
nhắm vào thủ đô và các thành phố lớn nhất của Hàn và Nhật, ngay cả Mỹ có
thể cũng đang bị đặt trong tầm ngắm. Cũng không ai rõ Bắc Triều Tiên có
tên lửa đầu đạn nguyên tử và vũ khí hủy diệt hàng loạt hay không. Nếu
có thật mà nếu chiến tranh xảy ra thì Đông Kinh, Hán Thành chuẩn bị biến
mất trên bản đồ thế giới. Mỹ - Hàn - Nhật không dại dột và dám mạo hiểm
như vậy, trừ phi chính phủ nhà Kim tự sụp đổ.
Nếu đấu pháo, đấu
tên lửa với nhau thì ai chịu kết quả thảm hại hơn? Triều Tiên đã chuẩn
bị hơn 50 năm nay và xây dựng thủ đô Bình Nhưỡng đặc biệt để tránh bom,
tránh pháo kích, tên lửa từ Nhật, Hàn, Mỹ. Trong khi Seoul và Tokyo lâu
nay chỉ chủ yếu hưởng thụ và làm kinh tế. Seoul toàn là nhà cao tầng san
sát nhau, chỉ dính vài miểng tên lửa sát thương cao là "thi đua" kéo
nhau đổ nhào như Domino hết. Trong khi Bình Nhưỡng có nhiều hầm trú ẩn,
những khu sinh hoạt dưới lòng đất đã được xây dựng từ lâu để chuẩn bị
cho chiến tranh.
Mỹ, Hàn, Nhật lại đều là những quốc gia thích
làm giàu, chú trọng làm ăn kinh tế là chính, thích hưởng thụ và sống
hưởng thụ đã quen, lại sợ chết, sợ đau, trong khi Bắc Triều Tiên là một
kẻ "cùi không sợ lở", "điếc không sợ súng", sẵn sàng "thí mạng cùi".
Liệu Mỹ - Hàn - Nhật có sẵn sàng "dây với hủi", "cùng nhau rơi xuống
nước", "ôm nhau chết chung"?
Do đó có lẽ sẽ không xảy ra chiến
tranh Triều Tiên mà nhiều người lo sợ. Đơn giản là vì bao nhiêu tên lửa,
vũ khí chiến lược của Bình Nhưỡng đang đặt Hàn Quốc, Nhật Bản trong tầm
ngắm và vì thế Mỹ và 2 em trai sẽ không dám động binh.
Diễn biến
hòa bình thì không len lỏi vào được để giật sập chế độ, vì Bắc Triều
Tiên luôn kín cổng cao tường, đóng kín, đóng chặt. Diễn biến quân sự thì
cũng không xong, không khéo họ sẽ phản ứng bằng cách phóng hỏa, dùng vũ
khí nguyên tử. Bắc Triều Tiên đúng là một cái gai trong mắt Mỹ mà không
biết cách nào nhổ đi.
Các chiến binh Triều Tiên tham chiến giúp
Việt Nam trên chiến trường miền Bắc chống không quân Mỹ đã cho chúng ta
thấy sức chiến đấu, tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan lỳ của họ. Tuy
nhiên, gần 20 vạn quân Hàn Quốc ở miền Nam Việt Nam thì cũng vô cùng tàn
ác, thường xuyên tàn sát cả làng trong nhiều khu vực ở miền Nam VN. Các
cựu sĩ quan ta sau này cho biết rằng không phải Pháp, không phải Mỹ,
càng không phải ngụy, mà chính quân Nhật và quân Hàn Quốc mới là khó
chơi nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hàn
Quốc và Triều Tiên đều có những quân đội rất hiếu chiến, hiếu sát, và
rất điêu luyện trong chiến đấu.
Về khả năng tự vệ trước sự tấn
công của liên quân Mỹ, Hàn, Nhật và các nước: Phải hiểu rõ rằng tuy hiện
nay quan hệ Triều Tiên - Trung Quốc không còn quá mặn nồng, thân thiết
như trước đây, nhất là sau vụ Trung Quốc từ chối viện trợ cho Triều Tiên
và cha con Kim Chính Nhật về nước sớm, hủy bỏ tiệc tiễn chân của Trung
Quốc, sự ủng hộ quan điểm của Mỹ và phương Tây về vấn đề hạt nhân và khu
vực của Trung Quốc mà Triều Tiên cho là bị phản bội, bị "đánh hội đồng"
trên bàn đàm phán 6 bên v.v. Cũng như những khác biệt ngày càng sâu sắc
gần đây giữa hai phía Triều Tiên - Trung Quốc. Nhưng một khi Triều Tiên
bị tấn công thì có thể tin rằng chắc chắn Trung Quốc, vì lợi ích quốc
gia và nhu cầu an ninh quốc phòng của mình, sẽ không làm một kẻ đứng
ngoài dửng dưng khoanh tay đứng nhìn.
Vùng Mãn Châu rộng lớn và
màu mỡ luôn là căn cứ hậu phương của Đảng Lao động Triều Tiên từ thời
kháng Nhật đến nay. Các cộng đồng người Triều Tiên, người Hoa gốc Triều ở
Mãn Châu rất đông và mạnh. Thế lực địa phương của họ rất mạnh nhờ sự
chống lưng của chính phủ Triều Tiên. Có rất nhiều thanh niên từ Triều
Tiên hiện đang lao động, công tác, hoặc du học tại đây. Có rất nhiều
công ty của chính phủ Triều Tiên hoặc do tư nhân đứng tên làm chủ nhưng
với sự đứng sau chống lưng và tài trợ của chính phủ Triều Tiên. Nhiều cơ
sở liên doanh Trung Quốc - Triều Tiên cũng hoạt động kinh doanh tại
đây. Đảng Lao động Triều Tiên cũng xem nơi này là nơi vươn ra ngoài
trong lĩnh vực kinh doanh với các đối tác phi Hoa duệ khác. Nhiều tổ
chức chính trị, văn hóa, kinh tế, hoặc cả quân sự trá hình của Triều
Tiên đều ở đây.
Nhìn chung, Triều Tiên có cơ sở cực mạnh ở Mãn
Châu. Kể từ khi phát xít Nhật cai trị tàn bạo, gây nhiều tội ác tại nơi
này và được Hồng quân Liên Xô giải phóng họ khỏi tay phát xít, thì Mãn
Châu có truyền thống cộng sản, thân Triều, thân cộng, thiên tả, chống
Nhật, Mỹ và phương Tây. Các nhà cách mạng chống Nhật tiền bối của cộng
sản Triều Tiên cũng đều hoạt động ở đây, trong đó có gia đình của Kim
Nhật Thành. Chính quyền Triều Tiên cũng xây dựng hàng trăm cơ sở tại đây
để làm một căn cứ vững chắc để nương náu tại đây khi cần. Những điều
này cũng được chính quyền Bắc Kinh ngấm ngầm ủng hộ và hậu thuẫn, thậm
chí hỗ trợ và giúp đỡ.
Cho nên, nếu bị tấn công vào và chiến bại
thì họ có thể chuyển về đây và chắc chắn rằng nhà nước Trung Quốc sẽ
giúp họ. Do đó, nếu muốn tiêu diệt chính thể Triều Tiên thì trước hết
Hoa Kỳ phải thỏa hiệp được với Trung Quốc, tung ra những lợi ích béo bở
và những "phần thưởng" hậu hĩnh và xứng đáng, đúng giá, để làm Trung
Quốc phản bội và đâm sau lưng Triều Tiên. Tuy nhiên, vùng Đông Bắc Trung
Hoa hiện nay là một trong những khu kinh tế quan trọng bậc nhất của
Trung Quốc được đầu tư từ cả trong lẫn ngoài, nếu Triều Tiên bất ổn, hỗn
loạn thì nó sẽ đón nhận làn sóng dân tỵ nạn tràn qua gây hậu quả nghiêm
trọng. Cho nên dù Mỹ có bỏ ra cái gì cho Trung Hoa thì cũng khó thể bù
đắp được những thiệt hại to lớn và lâu dài này. Cho nên khả năng chiến
tranh thật ra rất thấp, các bên chỉ to tiếng ra oai với nhau để giành
thế.
Trung Quốc không muốn chiến tranh gần nước mình như thế.
Điều mà Trung Quốc ngán nhất hiện hay là một cuộc chiến tranh khốc liệt
xảy ra ngay kế bên mình trong khi họ đang muốn tập trung phát triển kinh
tế và quân sự. Trung Quốc cũng không đời nào muốn Mỹ vươn sát tới bên
hông của mình, nhưng điều này sẽ thành sự thật nếu Bắc Triều Tiên thua,
như vậy chiến tranh là rất mạo hiểm và phiêu lưu, phiêu lưu quân sự và
phiêu lưu chính trị.
Trung Quốc cũng không bao giờ muốn một bán
đảo Triều Tiên thống nhất. Họ muốn duy trì hiện trạng và lợi dụng Bắc
Triều Tiên làm một vùng đệm an toàn, phòng tuyến an ninh. Họ muốn Bắc
Triều Tiên tiếp tục dựa vào mình và làm tiền đồn ngăn chặn Mỹ - Nhật -
Hàn và quyền lực Tây phương cho mình, ngăn cản không cho Mỹ tiến đến sát
ranh giới Trung Quốc, ảnh hưởng nóng đến an ninh quốc gia, an ninh biên
giới của họ.
Lưu ý Trung Quốc hiện đang là chủ nợ lớn nhất của
Mỹ. Trung Quốc là công xưởng giá phải chăng cho tài phiệt Mỹ và là thị
trường tiêu thụ lớn nhất của tư bản Mỹ. Quyền lợi, lợi ích của nhiều tập
đoàn tư bản tài phiệt Mỹ gắn liền với Trung Quốc, ít nhất là trong thời
điểm hiện nay. Vì vậy, hiện nay Hàn - Mỹ muốn đánh Triều Tiên thì phải
chịu những trừng phạt kinh tế nặng nề từ phía Trung Quốc, lợi bất cập
hại, lợi thì chưa thấy đâu, nhưng hại thì đã thấy trước rành rành ra đó,
ít nhất là về kinh tế.
Mỹ thật ra rất nể, ngán, và khá e ngại
trước Trung Quốc. Trước đây, Mỹ đã từng thỏa thuận hợp tác với
PetroVietnam khai thác tài nguyên dầu mỏ trên Biển Đông, sau khi Trung
Quốc phản đối thì Mỹ liền rút lại ngay ý định hợp tác với PetroVietnam.
Nếu Mỹ không được Trung Quốc "ok" thì sẽ không có Chiến tranh Triều Tiên
2.
Hàn Quốc cũng không muốn xảy ra chiến tranh, năm 2010, khi
Triều Tiên pháo kích vào đảo Diên Bình (Yeonpyeong) vài quả đạn pháo
thôi mà đã gây cho chứng khoán Hàn Quốc vô cùng điêu đứng, tư bản Hàn
Quốc, Mỹ và các nước phương Tây như muốn nghẹt thở, đứng tim. Chỉ cần
dàn pháo biên giới của Triều Tiên cùng khai hỏa thì thủ đô Hán Thành của
Hàn Quốc sẽ thành bình địa và bao công lao hồi phục khủng hoảng kinh tế
sẽ thành "công cốc".
Triều Tiên không cần lo lắng thị trường
chứng khoán sụp đổ. Họ chịu cực khổ đã quen. Họ không sợ gì hết. Họ
không bị vướng víu bởi điều gì. Họ không còn lợi ích nào khác. Pháo binh
Triều Tiên tập trung phần lớn ở biên giới, được đặt trong các hang động
và hầm trú ẩn kiên cố, chỉ cần có hiệu lệnh là lập tức bắn ngay, Hàn -
Mỹ chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra chưa kịp phản ứng thì thủ đô Seoul đã
tan hoang.
Ước mơ thống nhất xa vời của dân tộc Triều Tiên
Trung
Quốc ngày càng lớn mạnh thì cơ hội thống nhất bán đảo Triều Tiên ngày
thêm xa vời. Triều Tiên với vũ khí hạt nhân trong tay sẽ được Trung Quốc
tận dụng tối đa làm lá bài mặc cả với Mỹ. Mỹ cũng dùng Hàn Quốc làm một
quân cờ trong khu vực Đông Bắc Á để kìm hãm "sự trỗi dậy của con rồng
Trung Hoa".
Trong một nước tư bản thì lợi ích kinh tế là trên
hết. Nếu thống nhất thì kinh tế và sàn chứng khoán Hàn Quốc sẽ bị ảnh
hưởng rất xấu, và phải gánh những bê bối kinh tế, lạc hậu lỗi thời của
Triều Tiên, gánh lấy những hậu quả của Triều Tiên, nuôi hàng triệu miệng
ăn của Triều Tiên. Đã có tiền lệ như thế ở Đức sau khi Đông - Tây sát
nhập, tình hình Nam - Bắc trên bán đảo Triều Tiên có khi sẽ còn khủng
hoảng hơn, có khả năng sẽ lâm vào khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng
lương thực, thậm chí khủng hoảng di cư, khủng hoảng giao thông.
Hàn
Quốc muốn "money money money" hơn là muốn thống nhất. Hoặc giả "thống
nhất" chỉ là chiêu bài đãi bôi để tranh thủ dư luận, tranh thủ lòng dân,
lòe bịp mị dân, chứ thật sự họ có thật lòng thật dạ muốn thống nhất bán
đảo hay không thì chỉ có họ biết trong lòng.
Ôn cố tri tân, xem
lại lịch sử thì thấy dân tộc Triều Tiên từ xưa đã cho thấy bản tính bảo
thủ, khó thay đổi của mình, vì vậy khi đã chia rẽ thì chia rẽ rất lâu,
kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm. Sự chia rẽ, phân hóa, và văn hóa cát
cứ ly khai của Triều Tiên, không ai phục ai, có lẽ còn sâu đậm hơn cả
Trung Hoa.
Trong thời Tam quốc ở Trung Quốc, sau khi họ Tư Mã và
nhà Tấn tiêu diệt Đông Ngô, thống nhất Trung thổ, thì thời kỳ Tam quốc
đã hoàn toàn kết thúc, trở lại ngay với chế độ phong kiến tập quyền và
hệ thống chỉ huy tập trung trung ương. Trong khi đó, thời Tam quốc (3
nước Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La) ở bán đảo Triều Tiên thì tồn tại hàng
trăm năm, trải qua rất nhiều đời vua, và đến thời Tân La Thống nhất thì
các bộ hạ, dư đảng cũ của Cao Câu Ly và Bách Tế vẫn liên tục nổi dậy,
vùng lên mưu khôi phục triều cũ, lòng dân trong những vùng ảnh hưởng của
họ vẫn lưu luyến triều cũ.
Tàn dư của Cao Câu Ly lại nổi dậy
chống Tân La và trong họ lại chia thành 2 phe, phe Tiểu Cao Câu Ly bị
phe Bột Hải tiêu diệt và phe nào cũng tự nhận mình là người kế tục Cao
Câu Ly. Trong thời gian thống nhất lỏng lẻo, thì triều đình Tân La cũng
quản lý quân đội theo kiểu gia tộc chứ không có hệ thống chỉ huy tập
trung theo mệnh lệnh của nhà nước trung ương.
Khi Tân La suy
thoái thì hậu duệ, dòng dõi của Cao Câu Ly và Bách Tế lại vùng dậy, bán
đảo Triều Tiên lại rơi vào thời Hậu Tam quốc với 3 nước là Tân La, Hậu
Cao Câu Ly (còn gọi là Thái Phong), và Hậu Bách Tế. Gần 1000 năm, gần 10
thế kỷ chia rẽ sâu sắc dân tộc thành 3 thế lực đối chọi và cứ nối tiếp
nhau từ đời này sang đời khác.
Tại các nước lân cận, chia rẽ rồi
cũng hết, còn ở Triều Tiên thì chia rẽ rồi lại chia rẽ tiếp với những
lực lượng giống nhau hoặc là hậu duệ của nhau. Bất phục nhau và ân oán
nối tiếp ân oán kéo dài không thôi. Dân Triều Tiên sống chủ yếu bằng cảm
tính, cảm tình, và có lòng trung thành rất sâu sắc, và rất coi trọng
yếu tố gia tộc.
Ôn cố tri tân thì những gì chúng ta thấy trên bán
đảo Triều Tiên trong lịch sử hiện đại chỉ là sự lặp lại, tái diễn của
lịch sử. Lịch sử hiện đại nối tiếp lịch sử truyền thống. Bán đảo Triều
Tiên là một trong số các thuộc địa sau Thế chiến 2 và Chiến tranh lạnh
bị chia cắt. Nhưng khác với thiên hạ, các nước khác một là thống nhất
hẳn, hai là chia cắt luôn, còn họ thì lơ lửng, lưng chừng, thống nhất
không ra thống nhất, chia cắt không ra chia cắt, chiến tranh không ra
chiến tranh, hòa bình không ra hòa bình, vẫn chống báng nhau, đấu khẩu
với nhau, nhưng không có một giải pháp nào cả. Rất giống thời Tam quốc
hay thời Nam - Bắc triều đình trong lịch sử dân tộc Triều Tiên.
Ngoài
sự phân chia về chính trị, địa lý, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia thì
ngay trong nội bộ 1 quốc gia, 1 triều đình, 1 nhà nước phong kiến Triều
Tiên luôn tiềm tàng, âm ỉ nhiều mâu thuẫn nội tại, với những cuộc tranh
giành quyền lực sâu sắc và có khi đưa tới đổ máu, đẫm máu.
Một
phần lớn trong đó là sự mâu thuẫn giữa các thế lực tôn giáo và lợi ích
của các bên hữu quan. Suốt 1000 năm lịch sử, các chế độ phong kiến Triều
Tiên luôn có những sự cạnh tranh khốc liệt giữa 2 phái; Phật giáo và
Nho giáo, nhiều lúc đưa đến tình trạng ám sát bí mật, chém giết, đem
quân bản bộ đánh nhau công khai, công khai tranh giành quyền hành trong
triều nội.
Chỉ đến khi nhà Triều Tiên thay thế Cao Ly thì mới
quyết tâm đưa Khổng - Nho lên thành tôn giáo chính, giáo lý chính, dùng
Khổng giáo để trị quốc thì nạn phân tranh, phân quyền giữa Phật - Nho
mới tạm chấm dứt, nhưng nó vẫn âm ỉ, tiềm tàng mâu thuẫn và khi có dịp
là "xì hơi", bùng lên nội loạn.
Ngày nay, ở Bắc Triều Tiên thì
không ai rõ ra sao, vì họ đóng cửa với thế giới bên ngoài. Nhưng ở Nam
Triều Tiên xưa nay luôn có nhiều mâu thuẫn nội bộ. Xưa thì thanh trừng
đẫm máu, tiêu diệt đối lập, nay thì trong Quốc hội thỉnh thoảng có những
vụ ẩu đả tay chân, chửi bới thô tục vào nhau và hành hung lẫn nhau, có
khi dùng cả những hung khí, đồ vật để ném vào nhau và đập nhau. Sự mâu
thuẫn tôn giáo tưởng chừng đã hết với thời đại văn minh hiện đại ngày
nay, nhưng không, trong xã hội Hàn Quốc vẫn đang có mâu thuẫn quyết liệt
giữa phe Phật giáo và phe Tin Lành của chính phủ.
Từ xưa tới nay
Phật giáo Triều Tiên có truyền thống can thiệp vào chính trị, vào việc
nước. Ngày nay, chính phủ Hàn Quốc đa số là dân Tin Lành và giới Phật tử
không thể chen chân vào chính trường, không có nhiều vai trò về chuyện
quốc sự, do đó họ dễ nảy sinh bất mãn.
Tại Hàn Quốc từ trước tới
nay đã có rất nhiều cuộc biểu tình quy mô do giới Phật giáo, Phật tử
phát động để đòi hỏi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, và chống lại
"chính phủ Tin Lành", nhất là dưới thời tổng thống Lý Minh Bác. Rất
nhiều vụ biểu tình báo chí chính thức của Hàn Quốc đã không đăng, người
ta biết tin chủ yếu qua BBC Anh ngữ, blogs cá nhân, và một số phương
tiện truyền thông của giới Phật giáo các nước.
Chính sách Ánh Dương
Chính
sách Ánh Dương (Sunshine policy) là một chính sách ngoại giao tiến bộ
của Hàn Quốc với sự hợp tác của CHDCND Triều Tiên. Chính sách này do cựu
tổng thống Hàn Quốc Kim Đại Trung khởi xướng và tiến hành từ năm 1998.
Chính sách này đã "phá băng" mối quan hệ băng giá giữa hai bên, nối lại
chiếc cầu, khiến hai nước có quan hệ thân thiện, tốt đẹp, cởi mở với
nhau hơn, tạo ra những đột phá quan hệ, những thắng lợi ngoại giao quan
trọng.
Hai bên đã có cuộc tái ngộ lịch sử trong một cuộc hội ngộ
lịch sử ở Bình Nhưỡng giữa Kim Chính Nhật và Kim Đại Trung vào tháng 6
năm 2000, cuộc gặp gỡ lịch sử sau gần 1 thế kỷ đóng cửa với nhau này đã
tạo ra một số đột phá như: Một số hợp tác đầu tư, kinh doanh giữa 2 nhà
nước và giữa CHDCND Triều Tiên với các công ty tư nhân lớn của Hàn Quốc.
Khu công nghiệp chung Kaesŏng, nơi có các xí nghiệp nhà nước CHDCND
Triều Tiên hợp tác kinh tế với các doanh nghiệp tư nhân Hàn Quốc, được
xem là "Biểu tượng tình yêu giữa Bắc - Nam" (사랑의 표상). Những cuộc gặp mặt
giữa các thân nhân hai miền Nam - Bắc v.v. Sau này các lãnh đạo cao cấp
nhất của hai nước nhiều lần gặp nhau trao đổi, trong đó có cả Kim Chính
Nhật, Kim Đại Trung, Lô Vũ Huyễn đã gặp gỡ thân thiện và hữu nghị với
nhau ở Bình Nhưỡng.
Chính sách này đã phát huy hiệu quả rất tốt,
giúp hai bên xích lại gần nhau hơn, quan hệ hai quốc gia nồng ấm hẳn
lên, công cuộc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên cũng có chuyển cơ
tốt, cho đến khi Lý Minh Bác lên ngôi ở Hàn Quốc năm 2008, với chính
sách và thái độ cứng rắn của mình, chính sách Ánh Dương đã bị vô hiệu
hóa và không còn bao nhiêu tác dụng, làm cho tình hình khu vực lại căng
thẳng và nóng lên.
Mục đích của chính sách Ánh Dương là để làm
dịu đi thái độ ngoại giao và mềm dẻo hóa chính sách đối ngoại của CHDCND
Triều Tiên đối với Hàn Quốc, bằng cách kêu gọi, động viên hai bên tăng
cường đối thoại, "đối thoại không đối đầu", coi nhau như huynh đệ một
nhà, người chung một nước, coi hai bên ngang nhau, bình đẳng, công bình
với nhau, chứ không phải như kẻ thù v.v. và trợ giúp kinh tế (gồm viện
trợ và đầu tư) đi kèm với viện trợ nhân đạo (lương thực) mà không đi kèm
với điều kiện chính trị. Tách bạch vấn đề chính trị (kể cả vấn đề hạt
nhân) và vấn đề kinh tế ra riêng, xem hai vấn đề này là độc lập với
nhau.
Người
Hàn Quốc đặt tên "Ánh Dương" cho chính sách này là dựa theo một thần
thoại cổ xưa của dân tộc Cao Ly, với nội dung đại khái là Gió và Nắng
thi xem ai làm cho người không mặc áo đó nữa, gió càng thổi mạnh thì
người vì lạnh mà giữ chặt áo, nắng ấm áp nên người cởi áo để hưởng nắng
ấm.
Chính sách Ánh Dương có 3 nguyên tắc chính:
1. Bất cứ thái độ khiêu khích, kích động, gây hấn quân sự nào của CHDCND Triều Tiên và cả Hàn Quốc đều không được dung thứ.
2.
Hai bên sẽ cố gắng dùng biện pháp để hàn gắn, hòa giải, nối lại quan
hệ, từng bước tiến tới thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng biện pháp đàm
phán hòa bình và công bằng cho hai bên, không bên nào được "nuốt chửng"
bên nào, không bên nào được dùng bạo lực vũ trang quân sự để thâu tóm
bên kia.
3. Hàn Quốc và cả CHDCND Triều Tiên sẽ liên tục tìm kiếm
sự hợp tác, và giải quyết mọi khúc mắc, mọi vấn đề bằng giải pháp đàm
phán và đối thoại ôn hòa.
Hàn Quốc trấn an Triều Tiên là họ không
có ý đồ thâu tóm Triều Tiên vào lãnh thổ dưới quyền mình hay muốn lật
đổ chế độ CHDCND Triều Tiên, mà trước tiên là hai bên phải tồn tại trong
hòa bình, rồi từng bước tính chuyện thống nhất về sau.
Chính phủ
Kim Đại Trung cũng đưa ra 2 vấn đề chính, bổ sung cho 3 nguyên tắc
trên. Một là phân biệt rạch ròi, minh bạch và rõ ràng giữa chính trị và
kinh tế. Điều này có nghĩa là Hàn Quốc sẽ nới lỏng việc cấm vận kinh tế,
nới lỏng việc cấm đoán, hạn chế những doanh nghiệp tư nhân Hàn Quốc vào
làm ăn ở Bắc Triều Tiên. Hai bên sẽ hợp tác về sản xuất tại những khu
công nghiệp chung ở Triều Tiên và hợp tác du lịch ở một số thắng cảnh
thiên nhiên đẹp ở Triều Tiên. Đồng thời gia tăng viện trợ nhân đạo không
điều kiện.
Hai là đòi hỏi sự đáp lễ và "biết điều" từ phía Bình
Nhưỡng, không được gây sự, khiêu chiến, khiêu khích quân sự, kích động
chiến tranh, phải thay đổi chính sách thù nghịch, đối địch với Hàn Quốc,
chấm dứt những đe dọa thô bạo, hai bên cần coi nhau như anh em một nhà,
hai bên đối xử công bình với nhau, xem nhau là ngang hàng, thông hiểu,
kiên nhẫn và nhường nhịn lẫn nhau nếu cần. Hết sức tránh xung đột, chiến
tranh, bạo lực, dùng đối thoại và thái độ ôn hòa để giải quyết mâu
thuẫn, khác biệt.
Viện trợ nhân đạo (lương thực) chủ yếu cho
Triều Tiên không phải Mỹ, Trung Quốc, Nga, châu Âu mà chính là Hàn Quốc.
Hiện nay Hàn Quốc vẫn viện trợ cho Triều Tiên rất nhiều thông qua Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture
Organization of the United Nations - FAO). Chính phủ Hán Thành thời Lý
Minh Bác thì nói rằng họ muốn viện trợ đến được với người dân, làm xúc
tác để hòa hợp và thống nhất dưới chính sách Ánh Dương chứ không muốn
dùng viện trợ đổi hòa bình. Tổng thống Lý Minh Bác muốn đồng nhất vấn đề
chính trị và kinh tế, trái ngược quan điểm của tổng thống Kim Đại Trung
trước đây.
Có những vấn đề của bán đảo Triều Tiên và khu vực nên
được tách bạch từng vấn đề một. Theo quan điểm của Hàn Quốc và đa số
các nước liên quan, kể cả Nga, Trung Quốc, thì quá trình thống nhất là
vấn đề thuộc về quan hệ liên Triều, thuộc chính sách đối ngoại giữa Hàn
Quốc và CHDCND Triều Tiên. Tiến trình phi hạt nhân hóa và nỗ lực hòa
bình, ổn định trong khu vực thì liên quan trực tiếp đến họ, nhưng hai
anh lớn Mỹ - Trung mới đóng vai trò lớn nhất, ngoài ra Nhật và Nga cũng
có vai trò không nhỏ. Theo quan điểm của CHDCND Triều Tiên thì vật cản
của sự nghiệp thống nhất, trở ngại lớn nhất của sự nghiệp thống nhất
chính là sự hiện diện của Mỹ, Mỹ không muốn hai nước hợp nhất, chỉ cần
Mỹ rút lui khỏi Hàn Quốc thì bán đảo Triều Tiên mới có thể thống nhất.
Quan
điểm của tổng thống Hàn Quốc Lý Minh Bác là: Thống nhất, hòa giải, và
hòa bình lâu dài là mục tiêu của chính sách Ánh Dương chứ không phải là
"Giữ quan hệ 2 nước nồng ấm bằng viện trợ vô điều kiện". Hàn Quốc không
thể dùng tiếp tục dùng tiền thuế của dân để "nuôi hổ cắn mình", "dưỡng
hổ di họa", để cho không những kẻ dùng tiền của mình nuôi quân đánh
mình. Chúng tôi không thể lạm dụng tiền thuế dân tôi để nuôi bọn độc
tài, gia đình trị, hiếu chiến, phong kiến v.v.
Cộng với việc
nhiều người người dân Hàn xót tiền thuế của họ nên đã phản đối chính
sách này, cho nên trong thời gian cầm quyền của Lý Minh Bác, chính sách
này dần chỉ còn là "hữu danh vô thực", như cái xác vô hồn và dần đi vào
dĩ vãng.
Năm 2006, sau khi Bắc Triều Tiên thử nghiệm hạt nhân và
thử tên lửa, Hàn Quốc ngừng ngay viện trợ nhân đạo và đặt toàn quân vào
tình trạng báo động. Khi đó dư luận Hàn Quốc và quốc tế đều cho rằng
chính sách Ánh Dương không thể tiếp tục sau những hành động vi phạm
những thỏa thuận cơ bản trong chính sách Ánh Dương. Tuy nhiên, tổng
thống Lô Vũ Huyễn là một người ôn hòa, có cảm tình và có xu hướng thân
Triều Tiên, nên vẫn cố gắng giữ lại một số yếu tố trong chính sách Ánh
Dương, gồm đặc khu du lịch chung Kŭmgangsan (Kim Cương sơn) và đặc khu
kinh tế chung Kaesong vẫn sẽ tiếp tục.
Tuy nhiên, sau khi ông Lý
Minh Bác lên kế nhiệm, đã có thái độ quyết liệt, cứng ngắt, lên án
CHDCND Triều Tiên và tuyên bố Triều Tiên muốn Hàn Quốc tiếp tục hợp tác
trong khu công nghiệp Kaesong thì phải giải trừ vũ khí hạt nhân ngay lập
tức. Bắc Triều Tiên điên tiết, tiếp tục "xù lông nhím" bắn thử một loạt
tên lửa chiến lược để vừa thử nghiệm và huấn luyện, vừa thách thức và
đe dọa, đồng thời "làm giá", nâng cao giá trị phe mình.
Năm 2009,
sau khi Bình Nhưỡng thử nghiệm hạt nhân, quan hệ hai nước, hai miền đã
đóng băng hoàn toàn. Tháng 11 năm 2010, Bộ Thống Nhất của chính phủ Hàn
Quốc chính thức tuyên bố chính sách Ánh Dương đã thất bại, và chính thức
đóng lại chính sách này.
Tháng 1 năm 2011, trước tình hình tổng
thống bảo thủ Lý Minh Bác có thái độ cứng rắn, cực đoan với Triều Tiên,
chính phủ CHDCND Triều Tiên, Mặt trận Dân chủ Thống nhất Tổ quốc, các
đảng phái chính trị (Đảng Lao động Triều Tiên, Đảng Thanh hữu Thiên đạo,
Đảng Dân chủ Xã hội Triều Tiên) và các tổ chức CHDCND Triều Tiên đã có
một tuyên bố chung với các đảng chính trị và các tổ chức Nam Triều Tiên
về những đề nghị quan trọng như sau:
1. Chúng tôi lịch sự đề nghị
tiến hành đối thoại rộng rãi và thảo luận với các đảng chính trị và các
tổ chức Nam Triều Tiên, bao gồm cả các cấp các chính quyền Nam Triều
Tiên.
2. Chúng tôi sẵn sàng bất kỳ vào lúc nào và bất kỳ ở đâu
gặp gỡ với những ai có mong muốn cùng chúng tôi cho dù quá khứ của nó
như thế nào.
3. Chúng tôi mong muốn thảo luận và giải quyết trên
cơ sở đối thoại và thảo luận tất cả các vấn đề liên quan đến những công
việc quan trọng của dân tộc, trong đó có vấn đề giải trừ tình hình căng
thẳng, đảm bảo hòa bình, hòa giải, đoàn kết và hợp tác.
4. Trong
giai đoạn này vì mục đích xây dựng bầu không khí nhằm cải thiện các quan
hệ liên Triều chúng tôi đề nghị cấm dứt các cuộc chiến dịch vu cáo
chống đối lẫn nhau và không thực hiện các hành động có thể khiêu khích
phía bên kia.
Tuy nhiên, chính quyền Lý Minh Bác đã thẳng thừng bác bỏ và từ chối mọi đàm phán, gặp gỡ, trao đổi với phía Bắc Triều Tiên.
Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa
Hai
bên trên bán đảo Triều Tiên xưa nay không bên nào có chính nghĩa vượt
trội phe kia và vì vậy không phe nào chiếm được lòng dân hoàn toàn, và
hai bên giằng co mãi đến ngày hôm nay, bất phân thắng bại. Cũng chẳng có
phe nào hội đủ các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa để giành
chiến thắng tối hậu và thống nhất lãnh thổ.
Năm 1950, Triều Tiên
có lợi thế "thiên thời" hơn khi thời ấy đang có không khí chiến tranh từ
Thế chiến 2, thiên hạ vẫn quen với chiến sự, Hàn Quốc thì lúc đó yếu
hơn rất nhiều từ kinh tế đến quân sự, chính trị rối ren bất ổn, các thế
lực cực hữu trong chính quyền Lý Thừa Vãn xâu xé, thanh trừng, hãm hại
lẫn nhau để tranh quyền. Lúc ấy thế đứng của phe XHCN đang rất mạnh và
cũng ngang ngửa với phe TBCN. Chủ nghĩa thực dân cũ đã tan rã, chủ nghĩa
đế quốc bị thoái trào.
Khi tiến quân tấn công Hàn Quốc, quân đội
Triều Tiên được trang bị tốt với 13 vạn quân, vượt xa quân số Hàn Quốc,
và hơn 200 xe tăng bao gồm nhiều xe tăng T-34 của Liên Xô, họ bắt đầu
cuộc chiến với khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích YAK và 70
máy bay ném bom tấn công. Quân đội Lý Thừa Vãn yếu hơn và thiếu thốn
rất nhiều trang bị nếu đem so với quân đội Kim Nhật Thành.
Quân
đội của Lý Thừa Vãn chỉ có khoảng 6 vạn binh lính nhưng chỉ gồm các vũ
khí hạng nhẹ, không có lấy 1 chiếc xe tăng và không có bao nhiêu xe
thiết giáp và pháo binh. Hàn Quốc cũng không có máy bay tiêm kích, hoặc
bất cứ vũ khí chống tăng nào. Do đó họ chỉ còn nước thúc thủ giương mắt
ngó hàng loạt xe tăng Triều Tiên trùng trùng điệp điệp kéo vào thủ đô
Hán Thành, mạnh ai nấy chạy. Quân Triều Tiên tiến như chẻ tre vào thâu
tóm Hán Thành.
Cuộc tấn công được Kim Nhật Thành hoạch định tốt
và đã đạt được những thành công chớp nhoáng và bất ngờ. Kaesŏng,
Chuncheon, Uijeongbu và Ongjin nối đuôi nhau thất thủ, từng thành phố
từng địa điểm, từng vòng đai phòng thủ đều sụp đổ theo kiểu Domino. Hàng
loạt tướng tá cao cấp nhất của Lý Thừa Vãn ra đầu hàng tướng Kim Nhật
Thành.
Hàn Quốc bị thua sút về quân số, khả năng chiến đấu, cũng
như trang bị, lại thiếu lý tưởng chiến đấu và bất trung với chính phủ họ
Lý, hầu hết đều tan hàng rã ngũ hoặc đào ngũ hàng loạt sang phía Triều
Tiên, quay mũi súng chống lại họ Lý. Không quân Triều Tiên oanh tạc và
đổ bộ chiếm đóng phi trường Kimpo gần Hán Thành. Sau đó nhanh chóng
chiếm đóng thủ đô của Hàn Quốc mà không gặp sự phản kháng nào đáng kể.
Các chiến dịch quân sự hoàn thành dễ dàng và gọn gàng.
Ngay cả
khi quân Liên Hiệp Quốc và không quân Mỹ đổ bộ vào Phú Sơn, Quân đoàn 8
tác chiến cạnh Hàn Quốc và lập vành đai tử thủ, và oanh tạc các vòng vây
của Triều Tiên thì ưu thế chiến cuộc vẫn thuộc về Kim Nhật Thành.
Lực
lượng Đặc nhiệm Smith của Hoa Kỳ, một thành phần của Sư đoàn 24 Bộ binh
của Mỹ đóng ở Nhật Bản lớ ngớ đến Osan và đã bị quân đội tinh nhuệ và
quả cảm của Triều Tiên đập tan tành không còn manh giáp. Sư đoàn 24 của
Mỹ bị tiêu diệt gần phân nửa quân lực, bị buộc phải rút quân về thành
Taejeon cố thủ nhưng sau đó không lâu cũng bị quân Triều Tiên tiến đến
đánh tan.
Nhưng sau đó, do một chút sơ hở và thiếu một hệ thống
tiếp vận hoàn chỉnh, nên khi bị danh tướng Douglas MacArthur của Mỹ chơi
đòn đánh úp vào hông, bất ngờ đột kích ban đêm vào vùng Incheon, vấn đề
nhiên liệu, đạn dược, lương thảo đã từ khó khăn trở thành ác mộng đối
với quân Triều Tiên vốn đang phải chiến đấu đường dài. Trung quân tan
vỡ, hậu quân và tiền quân không thể phối hợp và tiếp ứng nhau. Tiền quân
bị kẹt trong vùng ảnh hưởng của các lực lượng Liên Hiệp Quốc. Thế là
Triều Tiên toàn quân tan vỡ, đại quân bị đánh bại ở khắp các trận tuyến,
liên quân LHQ liên tục phản công quyết liệt và đánh đuổi quân Triều
Tiên lúc ấy đang vừa đánh vừa lui.
Quân Triều Tiên rất thiện
chiến, tinh nhuệ, tinh thần chiến đấu cao, nhưng đó chỉ được phát huy
cao độ trong thời gian đầu chiến cuộc và khi họ đang trên đà thắng lợi.
Đến khi thiếu lương, thiếu đạn, bị phản công, bị thua những trận sau đó
thì họ bắt đầu xuống tinh thần, giống như một con nghiện đang hưng phấn
đột nhiên thuốc hết hiệu lực. Họ bị hụt hẫng, bị sốc và xuống tinh thần
ghê gớm, không còn lòng nào chiến đấu, tất cả đều sụp đổ, vừa đánh vừa
chạy, từ đại thắng thành thảm bại trong nháy mắt.
Cái mất tinh
thần mạnh nhất là khi đang thắng mà bỗng dưng ào ào thua. Như một đội
bóng đang gác ba bốn trái nên chủ quan, tự tin rằng phen này ta ăn chắc,
không ngờ hiệp 2 đội bạn phản công quyết liệt và bất ngờ giành lại ba
bốn bàn thắng và gỡ hòa. Lúc ấy mới thật sự là không còn chút tinh thần
nào chiến đấu. Trường hợp của Triều Tiên năm 1950 cũng là như thế, sau
khi bị đột kích vào Incheon và thiếu hụt lương thực, đạn dược, nhiên
liệu và bị tổn thất nặng nề, toàn quân bị sụp đổ theo kiểu Domino. Nhóm
này thua kéo theo nhóm kia. Sư đoàn này thua làm sư đoàn kia thua theo.
Toàn
bộ quân lực Triều Tiên đều tập trung vào Hàn Quốc những mong đánh cú
dứt điểm, làm một canh bạc phiêu lưu quân sự. Nhưng ông ta đã thua canh
bạc này, toàn quân tập trung tấn công Hàn Quốc nên ở nhà không còn bao
nhiêu quân phòng thủ, đây cũng được xác định là chiến dịch tấn công nên
không có bất cứ kế hoạch phòng thủ nào, số quân ít ỏi ở Triều Tiên cũng
chỉ lo việc gìn giữ an ninh trật tự trị an và mong ngóng tin chiến
trường phía Nam và lơ là việc phòng thủ. Do đó, khi quân Hoa Kỳ thừa
thắng xông lên, vượt qua vĩ tuyến 38 đánh vào lãnh thổ Triều Tiên thì họ
bị thua rất nhanh, không còn sức chiến đấu và cũng không còn lòng nào
mà chống trả. Họ đã vắt cạn hết sức lực cho chiến trường phía Nam, và
giờ đây họ đã kiệt lực.
Đó là nguyên nhân Triều Tiên thua trong
cuộc chiến 1950-1953, dùng toàn lực tấn công, bị thua, đối thủ dùng toàn
lực phản công thì cạn sức chiến đấu, thủ đô Bình Nhưỡng bị chiếm giữ,
nếu quân Trung Quốc không tiến vào cứu nguy thì có thể ngày nay đã không
tồn tại quốc gia CHDCND Triều Tiên.
Nhiều bạn hỏi thời đó quân
đội Triều Tiên được các chuyên gia quân sự đánh giá là quân đội thiện
chiến nhất thế giới, mà họ còn đại bại như vậy, thì ngày nay nếu Mỹ đánh
vào như xưa thì làm sao họ chống nổi? Thật ra không hẳn là vậy, ngày
nay, Triều Tiên tuy thực lực không còn được như xưa, nhưng họ tập trung
phòng thủ, họ đã xây dựng một hệ thống phòng thủ chu đáo và chặt chẽ
suốt hơn nửa thế kỷ qua. Chiến lược của họ ngày nay là pháo kích, tên
lửa, chứ không còn thiên về dùng bộ binh đánh vào như xưa. Cho nên việc
tấn công vào Triều Tiên ngày nay, nếu có, cũng chắc chắn sẽ không được
thuận lợi suông sẻ như xưa, vì không có sự "thừa thắng xông lên",
"chuyển bại thành thắng", và Bắc Triều Tiên trống vắng quân phòng thủ,
mở cửa hớ hênh như trong Chiến tranh Triều Tiên năm xưa.
Thời đó
Triều Tiên chỉ nắm ưu thế "thiên thời" hơn địch thủ một chút, nhưng
không có ưu thế "địa lợi" và "nhân hòa" nên không thắng được, lại sơ hở,
sai lầm về chiến lược nên đang thắng lớn thành ra thua to. Thời nay, cả
hai phía bán đảo Triều Tiên đều không ai quá hơn ai về các yếu tố thiên
- địa - nhân kể trên.
Về thiên thời, thời nay đang là thời đại
hòa bình và cạnh tranh kinh tế, hơn là cạnh tranh chính trị và quân sự,
không có cái thế, cái đà để phát động chiến tranh. Tuy nhiên, Hàn Quốc
có lợi thế hơn do họ có dư luận quốc tế đồng tình và sự ủng hộ từ các
thế lực lớn, họ có quan hệ ngoại giao tốt đẹp về cả chiều rộng và chiều
sâu với hầu hết các nước lớn. Trong khi đó, Triều Tiên bị cô lập về mọi
mặt, từ quân sự, kinh tế, đến ngoại giao.
Về địa lợi, Triều Tiên
có lợi thế về mặt phòng thủ khi nơi đây có nhiều rừng núi chưa được khai
phá mở mang đô thị hóa như bên Hàn Quốc, thuận lợi cho chiến tranh du
kích một khi Hàn Quốc tiến công vào đây. Triều Tiên gần nửa thế kỷ hòa
bình qua cũng đã nghiên cứu rất kỹ càng, tỉ mỉ để khai thác triệt để các
yếu tố địa lợi cho hệ thống phòng thủ. Các vùng núi cao đều có các căn
cứ quân sự, pháo binh, các dàn tên lửa, sẵn sàng nã pháo vào các mục
tiêu, kể cả Seoul hay Tokyo, họ cũng tuyên bố tên lửa tầm xa của họ có
thể đến được Hawaii và thậm chí Alaska của Mỹ.
Nhưng bất lợi về
mặt phát triển kinh tế khi ở đây chỉ có khoảng 15% đất là có thể phục vụ
cho canh tác. Tài nguyên thiên nhiên kém cỏi, nhất là về nông nghiệp,
mặc dù gần đây người ta khám phá ra mỏ uranium ở Bắc Triều Tiên. Thiên
tai, mất mùa, bão lụt liên tục. Về điểm này, Triều Tiên không bằng Hàn
Quốc. Nhưng yếu tố địa lợi của Hàn Quốc hầu như chỉ phục vụ cho kinh tế,
không phục vụ nhiều cho phòng thủ.
Về nhân hòa, cũng bên tám
lạng, người nửa cân, không bên nào có ưu thế vượt trội bên nào. Hai bên
đều tuyên truyền tốt, hai bên đều kiểm soát chặt chẽ các thông tin và
ngăn chặn các thông tin bất lợi cho chính phủ. Triều Tiên chỉ có
Intranet, không có Internet đầy đủ. Hàn Quốc thì mở blog phải đăng ký
bằng thẻ căn cước, khai báo lý lịch, tên họ, địa chỉ, rất nhiều website
bị chặn, các sách báo về CNXH, thân Cộng, thân Kim, thiên tả, hay chỉ
trích chính phủ, nói lên những tiêu cực của CNTB đều bị cấm ngặt và đặt
ngoài vòng luật pháp.
Hàn Quốc mở cửa hơn, có danh nghĩa "gìn giữ
hòa bình", lo cho đời sống kinh tế của nhân dân tốt hơn Triều Tiên. Tuy
nhiên đời sống nhân dân Triều Tiên ở các thành phố lớn, nhất là "tủ
kính" Bình Nhưỡng, vốn quy tụ toàn là những gia đình có công với chế độ,
trung thành tuyệt đối với chế độ, và ưu tú nhất Triều Tiên thì đời sống
không đến nỗi nào.
Theo một số người thân Cộng phương Tây đã
từng du hành, làm việc, công tác tại Triều Tiên cho biết nước này hiếm
có tội phạm, không có tội phạm lớn có tổ chức, xã hội cực kỳ ổn định và
an toàn, nhiều nhà ở thôn quê tối ngủ không đóng cửa (cũng có thể giải
thích rằng họ nghèo quá còn gì mà sợ mất).
Không có những tệ nạn
hút chích xì ke, băng đảng, xã hội đen, Mafia, giang hồ, dân anh chị,
hiếp dâm như ở các nước khác. Không có nhiều người hút thuốc, rượu chè,
nhậu nhẹt. Hầu như không có ăn chơi buổi tối, khi đêm đến là đa số dân
chúng đều tắt đèn đi ngủ để giữ gìn sức khỏe và tiết kiệm điện lực
(không muốn tiết kiệm thì cũng bị cắt điện, không có cách nào khác),
chính vì vậy mà về đêm, vệ tinh chụp hình bán đảo Triều Tiên thấy các
nước chung quanh thì sáng rực đèn, trong khi Triều Tiên lại chìm trong
bóng tối.
Nghèo nàn, lạc hậu, đời sống khó khăn, bị khủng hoảng
lương thực v.v. nhưng bù lại giáo dục (cả đại học và các trung tâm dạy
nghề, dạy kỹ thuật) và y tế đều miễn phí. Theo một quan chức Tây Ban Nha
hiện đang công tác ở Triều Tiên trả lời đài ABC Mỹ thì ở Triều Tiên
nghèo đói là có, nhưng không có ai thất nghiệp, ai cũng được phân phối
việc làm, không có dân vô gia cư và không có ăn mày. Môi trường không bị
ô nhiễm. Hiếm có người thất học, mù chữ. Hiếm tệ nạn xã hội, tệ nạn văn
hóa, tai nạn giao thông. Quy hoạch cực tốt, đặc biệt ở thủ đô Bình
Nhưỡng.
Mặc dù nghèo, nhưng giáo dục đại học được đầu tư cẩn
thận, chu đáo, trường đại học Kim Nhật Thành ở Bình Nhưỡng hội đủ tiêu
chuẩn quốc tế và trong các phòng học, mỗi bàn học đều có máy tính và gần
đây đã được trang bị laptop. Hệ thống giáo dục ngoại ngữ, nhất là Anh
ngữ được đánh giá là không thua kém bất kỳ hệ thống giáo dục nào trên
thế giới. Có đầy đủ báo chí, sách vở tiếng Anh dành cho du khách, đa số
các nhân viên nhà nước, các đảng viên đều nói được tiếng Anh cơ bản. Họ
nghiên cứu sâu sắc và kỹ càng mọi mặt về Hoa Kỳ, từ trong ra ngoài, từ A
đến Z.
Nhiều người nghèo Triều Tiên trốn sang Hàn Quốc, định cư
một thời gian thì đều không thích ứng nổi với cuộc sống ở Hàn Quốc,
không hội nhập nổi vào xã hội Hàn Quốc, không xin được việc làm, và có
rất nhiều người tự tử. Tỷ lệ người tự tử, thất nghiệp, ăn xin, bạo hành
trong cộng đồng Bắc Triều Tiên ở Hàn Quốc cao hơn rất nhiều so với người
Hàn Quốc và các cộng đồng dân tộc khác ở Hàn Quốc.
Theo báo điện
tử Chosun Ilbo ở Hàn Quốc, có khoảng 1500 học sinh người tỵ nạn Bắc
Triều Tiên ở Hàn Quốc, đa số họ khó thích nghi, hội nhập và bị phân
biệt, kỳ thị, khinh khi, coi thường, có nhiều trường hợp còn bị ngược
đãi, hành hung, đánh hội đồng. Nguyên nhân thì chủ yếu từ sự kỳ thị Bắc -
Nam do văn hóa đã có nhiều khác biệt sau gần 1 thế kỷ xa cách nhau, cô
lập với nhau, cả giọng nói, tiếng nói, và cách dùng từ ngữ, thậm chí cả
cách viết cũng có nhiều khác biệt. Những người tỵ nạn này cũng chịu sự
khinh bỉ, chửi mắng, xa lánh, tẩy chay, gọi họ là "phản bội", "hèn hạ",
"nhục nhã" v.v. từ một bộ phận người dân có cảm tình với CHDCND Triều
Tiên, chán ngán chính phủ Hàn Quốc, căm ghét sự dính líu của Hoa Kỳ và
sự có mặt của quân đội Mỹ ở Hàn Quốc.
Những di dân Triều Tiên
trước khi hòa nhập với cuộc sống mới đều trước hết phải trải qua những
lớp học dài ngày để tẩy não và nhồi sọ. Nếu Hàn Quốc có chính nghĩa rõ
ràng và được nhân dân ủng hộ hơn thì sao còn mở những lớp học đó để tẩy
não, nhồi sọ dân nhập cư Triều Tiên làm gì? Nếu họ thật sự chán ghét chế
độ Kim Chính Nhật, nếu họ thật sự ủng hộ Hàn Quốc hơn, nếu Hàn Quốc quả
thật là "chính nghĩa", là "sự thật", là "ánh sáng" thì còn phải làm
chuyện đó hay sao, khi người ta thoát khỏi "địa ngục Bắc Hàn" và tới
được "bến bờ tự do" thì họ đương nhiên là phải sung sướng một cách tự
nhiên, tự nguyện, và ủng hộ Hàn Quốc, quay sang chửi bới vạch trần,
phanh phui Triều Tiên chứ? Mở lớp học nhồi sọ làm gì nữa? Thế thì có
thật sự là Hàn Quốc được lòng dân hơn, và dân tình chống đối chính quyền
ở Triều Tiên hay không?
Một phần do chính sách bưng bít nhiều
thông tin của Triều Tiên vô hình trung tạo cơ hội cho Hàn Quốc tha hồ
bịa đặt, tô vẽ, thổi phồng. Nhiều người tỵ nạn Triều Tiên sau khi đến
được Hàn Quốc trả lời phỏng vấn cho biết sau khi tới Hàn Quốc họ mới
"nhận ra" và "biết được" thông tin này thông tin kia ở Triều Tiên, mà
thật ra chỉ là những thông tin chưa được kiểm chứng và trong đó có nhiều
thông tin không hợp lý và không chính xác, đậm tính giật gân. Ví dụ
thông tin cho rằng Bắc Triều Tiên bưng bít lai lịch Công giáo của gia
đình Kim Nhật Thành (thật ra ông nội và cha của Kim Nhật Thành cải trang
thành mục sư Tin Lành để che tai mắt mật thám Nhật và cũng để tiện bề
ra vào nhà thờ hoạt động hội kín, lập các cơ sở bí mật trong nhà thờ),
thông tin Kim Chính Nhật có nhiều thế thân và người đi gặp tổng thống
Hàn Quốc Kim Đại Trung và Lô Vũ Huyễn chỉ là thế thân của họ Kim (làm
sao anh biết và từ đâu anh biết việc này?), Kim Nhật Thành và Kim Chính
Nhật quan hệ tình dục bừa bãi với phụ nữ xong giết họ bịt miệng, Kim
Jong-nam lôi nữ sinh lên phòng đại học để hãm hiếp, Kim Nhật Thành tắm
chung với tập thể cô gái trẻ để lấy sinh khí nhằm được trường sinh bất
lão v.v. đều là những thông tin ai nghe cũng thấy khó tin, chưa có nguồn
khả tín nào ủng hộ, đậm tính lá cải, nhưng dân tỵ nạn Bắc Triều Tiên
thì tin răm rắp và cho rằng vì bị bưng bít nên họ mới không biết được
những tin đó, họ cảm ơn các cơ quan chiến tranh tâm lý của Hàn Quốc đã
giúp họ "nhận ra sự thật", "minh bạch sự thật bị che giấu lâu nay". Họ
chưa bao giờ tự đặt câu hỏi vì sao họ ở ngay trong Bắc Triều Tiên mà họ
còn không biết mà những người ở ngoài lại có thể biết.
Hàn Quốc
đã mở rất nhiều chiến dịch thông tin, chiến dịch tuyên truyền, lập ra
nhiều trang web bôi đen hình ảnh Triều Tiên. Họ khai thác, tận dụng và
lợi dụng vũ khí người tỵ nạn và mượn lời họ kể tội, bôi nhọ Triều Tiên,
trong đó có những câu chuyện không phải từ người tỵ nạn mà do ban biên
tập hư cấu dựa trên vài sự kiện. Họ "xã hội hóa", "dân sự hóa" quốc sách
tuyên truyền chống Triều Tiên, lập ra rất nhiều hội đoàn, tổ chức, câu
lạc bộ, nhóm nghiên cứu v.v. và lôi kéo cả những thiếu niên, thanh niên
vào cuộc, khai thác và lợi dụng góc độ nhân đạo của vấn đề để phục vụ
cho mục đích tuyên truyền chiến tranh tâm lý. Không những "quốc nội hóa"
các chiến dịch thông tin chống Triều Tiên, dưới danh nghĩa "giúp đỡ
người tỵ nạn", "chung tay với nhân dân Bắc Triều Tiên", nhờ ưu thế của
một nền kinh tế phát triển, họ còn có tham vọng muốn "quốc tế hóa", họ
bỏ tiền ra thuê nhiều người nước ngoài dịch các website và sách báo
chống Triều Tiên ra nhiều thứ tiếng, đặc biệt là tiếng Anh, Trung, Pháp,
Tây Ban Nha. Và cũng hợp tác với Hoa Kỳ để chuyển ngữ một cách chuyên
nghiệp từ tiếng Hàn sang tiếng Anh.
Họ cũng dùng một "chiêu" mà
trước đây Mỹ hay dùng (và hiện vẫn đang áp dụng với người tỵ nạn Cuba)
đó là dụ dỗ hợp tác xuất bản sách, những ai viết hồi ức, hồi ký, về
những "trải nghiệm kinh hoàng" của họ ở "địa ngục trần gian" kia, nơi họ
vừa thoát khỏi, thì sẽ được thưởng công, trả công hậu hĩnh qua hình
thức "tiền nhuận bút". Đối với những người kém văn hóa, thì sẽ có chuyên
viên giúp đỡ, kềm kẹp, gợi ý, biên tập, chỉnh sửa. Kém hơn nữa thì sẽ
có những nhà văn, nhà biên tập chuyên nghiệp hợp tác viết, hoặc viết
hoàn toàn dựa trên lời kể của nhân vật tỵ nạn, rồi khi xuất bản sẽ để
tên tác giả là nhân vật tỵ nạn, hoặc đồng tác giả có tên của nhân vật tỵ
nạn, trong khi thực tế người này không phải là người viết.
Những
sách, truyện ký, hồi ký, hồi ức về đất nước bí ẩn Triều Tiên luôn rất
hấp dẫn và khơi gợi sự tò mò nơi người đọc, vì thế những cuốn sách này
luôn bán chạy. Thế là hai bên cùng có lợi, với "tác giả" thì được số
tiền "nhuận bút" khổng lồ (nhiều nhân vật tỵ nạn ở Hàn Quốc không nghề
nghiệp, khó thích nghi, ít tiền bạc, túng thiếu, nghèo khổ, khi được "ai
đó" đến tiếp cận với gợi ý thì họ dễ nhận lời), với chính phủ Hàn Quốc
thì những thông tin tuyên truyền được truyền đi một cách gián tiếp và có
sức lôi cuốn và thuyết phục cao khắp trong nước và lan ra cả quốc tế.
Triều
Tiên và những người ủng hộ họ thích khai thác quá khứ chống Nhật để làm
cơ sở chính nghĩa, chính danh cho Triều Tiên. Nhưng sự thật là họ đánh
không thắng Nhật ngoài một vài trận nhỏ, chiếm được vài đồn lính. Cuộc
chiến giữa quân kháng chiến Kim Nhật Thành và Nhật lại không diễn ra
nhiều trên bán đảo Triều Tiên. Họ chủ yếu chống Nhật ở Mãn Châu, Trung
Quốc, và các vùng biên giới Trung - Triều, gần sông Áp Lục. Như vậy cuộc
chiến chống quân phiệt Nhật của lực lượng Kim Nhật Thành không mang
tính toàn dân, không phải là cuộc chiến tranh nhân dân. Họ không hề đánh
bại đế quốc Nhật, không phải là lực lượng chiến thắng Nhật, không phải
là lực lượng đã giải phóng bán đảo Triều Tiên khỏi tay Nhật. Chẳng qua
phe Đồng minh đánh bại phe Trục, Nhật đầu hàng nên họ trở thành một
trong những lực lượng bản xứ được "ăn theo". Sau khi quân Liên Xô và Hoa
Kỳ giải phóng bán đảo thì đảo này vẫn là một vùng đất vô chủ, chưa ai
thành lập nhà nước và quốc gia.
Hàn Quốc có một trong những ngân
sách quốc phòng cao nhất thế giới và là một trong tiềm lực quân sự mạnh
nhất thế giới. Với một nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh và giàu kinh
nghiệm, từ năm 1990 khi bắt đầu tập trung chế tạo vũ khí hiện đại thì
họ đã có hơn 70% vũ khí, đạn dược, quân phục tự làm, ngày nay đã có hơn
80% vũ khí hạng nặng do họ tự chế. Quân số tuy không đông bằng Triều
Tiên, nhưng vô cùng thiện chiến, hiếu chiến và hung hăng, có thể thấy
mức độ hiếu thắng, say máu, khát máu, tàn độc, vô nhân đạo của quân Hàn
Quốc khi họ tham chiến giúp Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Về
kinh tế, Hàn Quốc nhờ Mỹ và phương Tây giúp đỡ, đã có một nền kinh tế
lớn thứ 3 châu Á và top 10 thế giới. Tuy nhiên về chính trị thì họ vẫn
còn lệ thuộc, chịu lép trước Mỹ, nhường nhịn Mỹ quá đáng và thường đấu
đá nội bộ, tham nhũng tiêu cực. Chính trị và xã hội không được ổn định,
an ninh như Triều Tiên (tuy nhiên điều này cũng chưa chắc vì Triều Tiên
không cho thế giới bên ngoài thấy nhiều về họ). Xã hội Hàn Quốc hay xảy
ra những cuộc biểu tình chống Lý, chống Tin Lành, chống sự đóng quân của
Mỹ, chống tổng thống, đốt xe, và bị cảnh sát dùng gậy gộc, hơi cay đàn
áp. Có những cuộc biểu tình, tuần hành đã biến thành bạo động và có đổ
máu.
Về phía Triều Tiên, với tình hình hiện nay, với thực lực
hiện thời, họ không đủ sức để đánh sang Hàn Quốc thống nhất quốc gia, và
trên các phương tiện truyền thông thì họ cũng không tuyên bố gì về việc
sẽ đánh qua Hàn Quốc bằng quân đội. Nhưng họ tuyên bố khẳng định rằng
nếu Hàn Quốc và đồng minh mà dám đụng đến Triều Tiên thì Hàn Quốc và
Nhật Bản sẽ thành "tro bụi", một số thành phố của 2 bang Mỹ là Alaska và
Hawaii cũng sẽ thành đống "gạch vụn". Như vậy có vẻ họ không có ý định
đánh Hàn Quốc bằng quân lực, nhưng nếu cần thì họ sẵn sàng đánh vào Hàn
Quốc bằng đại pháo, tên lửa, biến Hán Thành thành biển lửa, san bằng các
vùng phụ cận thành bình địa bằng vũ khí chiến lược của mình.
Triều
Tiên với rất nhiều dàn tên lửa chất lượng cao và không ai biết có gắn
đầu đạn hạt nhân hay không. Mật vụ Triều Tiên hoạt động tốt, xã hội thắt
chặt, khắt khe, kỷ luật quá cũng khiến CIA bó tay thúc thủ không thể dò
ra được là thật ra Bình Nhưỡng có sở hữu vũ khí hạt nhân hay không, đã
làm ra được vũ khí hạt nhân hay chưa, và nếu có thì bao nhiêu?... Đây là
những vũ khí chiến lược rất nguy hiểm của Triều Tiên mà Hàn Quốc không
dám đụng tới, phải cân nhắc thật kỹ nếu muốn khai chiến với Triều Tiên.
Suốt
hơn 50 năm qua, tận dụng thời gian hòa bình tạm bợ này, Triều Tiên đã
xây dựng được một hệ thống phòng thủ vô cùng cẩn mật và vững chắc. Triều
Tiên có nhiều đường hầm chống không và các khu mua bán, khu vực sinh
hoạt dưới lòng đất, sẵn sàng đối phó lâu dài với không lực đối phương.
Đường
phố thì có ít người, dân chúng được tuyên truyền giáo dục rất kỹ và
được huấn luyện "kế thanh dã" (tiêu thổ, vườn không nhà trống). Hàn - Mỹ
khó mà "dùng chiến tranh nuôi chiến tranh" ở đây. Chỉ có khoảng 15% đất
ở Triều Tiên là có thể canh tác, tài nguyên thiên nhiên rất kém, nếu
đánh Triều Tiên thì Hàn Quốc không có xơ múi, thu lợi gì được nhiều ở
đây mà còn phải vận chuyển nhân lực, vật lực vào Triều Tiên để lo việc
bình định, thậm chí phải "nuôi" hộ mấy triệu dân Triều Tiên, lo cho mấy
mươi triệu miệng ăn ở Triều Tiên, vốn gần 1 thế kỷ nay đã quen với cơ
chế quan liêu bao cấp và kinh tế tập trung, chỉ huy, mệnh lệnh. Kinh tế
của Hàn, Nhật, Mỹ vốn vẫn chưa thoát hẳn khủng hoảng, lại sẽ càng khủng
hoảng sâu sắc hơn.
Triều Tiên có nhiều tảng đá ngàn cân đặt sẵn
trên các gò cao kế bên các lề đường, khi có chiến tranh sẽ dùng máy móc
đẩy những tảng đá đó rơi xuống giữa đường, chung quanh lại toàn rừng
núi, xe tăng liên quân không có đường chạy.
Quân địch tiến vào
Bình Nhưỡng thì sẽ phải chinh phục từng căn nhà một. Thủ đô Bình Nhưỡng
là "tủ kính" của chế độ, là căn cứ vững chãi của chế độ, với những người
tuyệt đối trung thành với gia đình họ Kim, những người ưu tú đều di cư
đến đây hoặc đã ở sẵn nơi đây. Đời sống Bình Nhưỡng cũng tạm ổn nên
người dân nơi đây giữ vững niềm tin và sự trung thành đối với chính
quyền. Đa số dân Bình Nhưỡng đều là đảng viên hoặc có người thân là đảng
viên, quân nhân.
Mỗi căn nhà ở Bình Nhưỡng và các vùng phụ cận,
và một số thành phố lớn đều là một ổ tự vệ phản kháng hữu hiệu. Mỗi ngôi
nhà đều có trang bị những công cụ quân sự cơ bản, có đường hầm tránh
bom, chỉ cần chính phủ phát súng cho dân thì mỗi người dân sẽ thành một
người chiến sĩ, mỗi căn nhà sẽ thành một thành trì chống địch. Mỗi nhà
đều có hầm trú ẩn. Một số nhà có hầm chữ A, trước đây Triều Tiên đã tặng
phát minh "hầm chữ A" này cho Việt Nam, mô hình hầm chữ A này đã giúp
quân dân ta rất nhiều trong kháng chiến chống Pháp - Mỹ.
Do được
dạy dỗ tinh thần hận Mỹ, thù Mỹ, bài Mỹ lâu ngày. Hầu như toàn dân già
trẻ lớn bé Triều Tiên đều căm thù Mỹ thấu xương tủy. Trẻ con mẫu giáo
nào ở Triều Tiên cũng thuộc lòng những bài hát trẻ em có nội dung chống
Mỹ, giết Mỹ. Ai cũng biết trước 1953 Mỹ đã bom Triều Tiên không còn một
căn nhà như thế nào, đã thảm sát hãm hiếp, gây ra bao nhiêu tội ác với
nhân dân Triều Tiên như thế nào, và đã cấm vận tra tấn hành hạ Triều
Tiên đến tận ngày nay như thế nào, đã chôn sống tập thể các thôn dân như
thế nào, Lý Thừa Vãn và Phác Chung Hy tàn ác thế nào, Lý tổng thống đã
bắt dân Triều Tiên đi lính Hàn Quốc như thế nào. Đến nỗi họa sĩ nổi
tiếng Picasso phải vẽ bức tranh "Massacre in Korea", một tác phẩm nổi
tiếng của ông nói về sự thảm sát ở Triều Tiên khi quân Mỹ và Liên Hiệp
Quốc kéo sang đó.
Như vậy, nếu Hàn Quốc tự mình kéo qua đánh
Triều Tiên thì không sao. Nhưng nếu có mặt lính Mỹ thì sẽ phải đối đầu
với một đối thủ có khi còn cuồng tín, cuồng chiến, hung hãn, cảm tử hơn
cả quân phát xít, quốc xã ngày xưa hay các lực lượng Hồi giáo cực đoan
Trung Đông thường ôm bom cảm tử, tử vì đạo ngày nay.
Quân đội
Triều Tiên là một quân đội thiện chiến, tinh nhuệ, bản lĩnh chiến đấu
rất cao, kỷ luật sắt, tinh thần tư tưởng vững mạnh, tư tưởng chính trị
vững vàng, tinh thần sẵn sàng quyết tử quyết chiến, kỹ năng tác chiến cá
nhân và tập thể rất cao và ăn ý, được trang bị vũ khí cá nhân khá tốt.
Trong
thời Chiến tranh Lạnh, quân đội Triều Tiên được báo Times và BBC Luân
Đôn đánh giá là thiện chiến nhất, xếp hạng trước cả Hồng quân Liên Xô và
quân đội Hoa Kỳ. Quân đội Triều Tiên có chương trình huấn luyện như khổ
sai, dễ chết nhất, nguy hiểm nhất, và thuộc loại kinh hoàng nhất trong
các hệ thống quân sự thế giới. Mỗi chiến sĩ Triều Tiên đều là những
chiến binh thép và khá cuồng tín nhưng lại rất kỷ luật.
Quân đội
Triều Tiên được như vậy là nhờ truyền thống chống quân Quan Đông rất tàn
ác và thiện chiến của phát xít Nhật. Khi đã quen thuộc chống nhau với
quân chủ lực Quan Đông mỗi ngày thì không còn biết sợ đội quân nào khác.
Một phần lớn quân nhân Triều Tiên thời đó cũng từng có kinh nghiệm
chiến đấu trong Hồng quân Liên Xô, đội quân thiện chiến nhất thế giới
thời ấy, sự thiện chiến tinh nhuệ của Hồng quân cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến khả năng tác chiến của quân đội Triều Tiên. Có nhiều tướng lĩnh, sĩ
quan của Triều Tiên cũng từng phục vụ trong hàng ngũ Hồng quân, mà chủ
tịch Kim Nhật Thành là một trong số đó.
Quân đội Triều Tiên vẫn
giữ nguyên các chương trình huấn luyện thời chiến, tương tự như thời
chống Nhật, chống phát xít đó. Và vẫn giữ các bài huấn luyện khổ sai đó.
Những bài huấn luyện như "Đi dây tử thần" rùng rợn trong chương trình
của Hoa Kỳ mà tân binh nào của Mỹ cũng ngán sợ, thật ra chỉ là một bài
tập cơ bản của Triều Tiên.
Tại Triều Tiên, cứ khoảng 10 người là
có 1 chiến binh chính quy. Đó là chưa tính quân dự phòng và các lực
lượng bán quân sự. Quân đội chiếm 10% tổng dân số, đó là tỷ lệ cao nhất
thế giới. Mặc dù ngân sách nghèo, diện tích nhỏ, dân số ít, nhưng vẫn
luôn là một trong những quốc gia có lực lượng quân sự đông nhất thế
giới, một trong những ngân sách quốc phòng lớn nhất hành tinh, tỷ lệ
ngân sách giành cho quốc phòng cũng cao nhất thế giới.
Các nước
khác chỉ tập trung lo cho 3 quân chủng là Hải - Lục - Không quân, thì
Triều Tiên ngoài 3 quân chủng đó họ còn xem trọng lực lượng An ninh
ngang bằng với 3 quân chủng kia. Đó là chưa kể các lực lượng cảnh sát,
cảnh sát chìm, tình báo, đặc tình, cộng tác viên của chính phủ v.v. Giữ
vững tuyệt đối an ninh trong quân đội, trong hệ thống chính trị và ngoài
xã hội. Cứ cách 10 người là có 4 đảng viên Đảng Lao Động Triều Tiên.
Triều Tiên không dưới 40% dân số là đảng viên cộng sản, tỷ lệ cũng cao
nhất trong các nước XHCN từ xưa đến nay. Hầu như mỗi nhà, mỗi gia đình
là có ít nhất 1 đảng viên. Đâu đâu cũng có chi bộ của Đảng Lao động, kể
cả trong chùa chiền hay nhà thờ.
Triều Tiên có nền công nghiệp
quốc phòng khá tốt, vũ khí thuộc loại tốt. Công nghệ tên lửa, đạn đạo
rất cao. Tên lửa là vũ khí chiến lược của Triều Tiên nên họ rất chú
trọng và đầu tư rất lớn vào đây. Tên lửa tầm ngắn của họ dành cho Hàn
Quốc và Nhật Bản, theo các nhà quân sự phương Tây tính toán thì chỉ cần
khoảng 30 giây là đến được Seoul, và chỉ cần khoảng 2, 3 phút là đến
được Tokyo, họ có rất nhiều pháo đài đặt khắp nơi trên các vùng núi cao ở
Triều Tiên. Những hệ thống tên lửa phòng ngự mà Hàn, Nhật tự chế hoặc
được Mỹ viện trợ / bán cho đều không chắc có thể bắn chặn hóa giải được
những tên lửa từ Triều Tiên, cùng lắm thì cả 3 "đồng quy ư tận", có thể
kéo theo cả vài trăm căn nhà ở Hawaii và Alaska của Mỹ đi chung.
Tên
lửa tầm xa của Triều Tiên thì để dành cho Mỹ, nhắm vào tiểu bang Alaska
và Hawaii mà Triều Tiên cho rằng họ có thể vươn tới. Tuy khó thể biến
Hawaii và Alaska thành "gạch vụn" như Seoul và Tokyo nhưng cũng sẽ gây
thiệt hại nặng nề cho Mỹ, gây tổn thất nặng cho kinh tế Mỹ, và như một
cái bạt tai tóe lửa vào mặt mũi, gây tổn thương danh dự, tự ái của đại
cường quốc Hoa Kỳ. Nếu chuyện đó xảy ra, thì đó sẽ là lần đầu tiên trong
suốt 200 năm lập quốc nước Mỹ bị tấn công vào bên trong nội địa của
mình, điều mà cả Đức Quốc Xã, phát xít Ý, quân phiệt Nhật, Hồng quân
Liên Xô còn chưa dám. Quân đội Nhật hung hăng và thiện chiến như vậy mà
cũng chỉ đánh vào Trân Châu Cảng chứ chưa dám bén mảng đến lục địa.
Triều
Tiên đã xây dựng rất nhiều khu sinh hoạt dưới lòng đất, sẵn sàng cho
một cuộc đối đầu trực diện, toàn diện, và lâu dài với bất kỳ thế lực
nào, đặc biệt là với không lực Hàn hoặc Mỹ. CIA Mỹ cũng không có đường
thể hiện tài năng của mình ở quốc gia khép kín này như họ đã làm được ở
các nước khác. Một nhà khoa học quân sự Mỹ, giáo sư ở trường võ bị nổi
tiếng West Point cho rằng "Triều Tiên là quốc gia duy nhất trên thế giới
ngày nay có khả năng đối đầu toàn diện trong một cuộc chiến tranh toàn
diện, tổng lực với chúng tôi". Triều Tiên sẽ không dùng chiến tranh du
kích, mà họ sẽ dùng trận địa chiến chọi thẳng theo học thuyết quân sự
Stalin.
Liên quân mà tiến vào Triều Tiên thì sẽ sa lầy rất sâu.
Và cho dù có chiếm được Bình Nhưỡng và các thành thị, thì họ cũng sẽ
không bao giờ bình định được Triều Tiên. Nguy hiểm nhất là đâu đâu cũng
có đảng viên Đảng Lao động tổ chức chiến đấu. Triều Tiên còn một hậu
phương lớn ở Trung Quốc, mà cụ thể là vùng Mãn Châu trù phú, phát triển,
có tài nguyên tốt, có cơ sở tốt, là nơi lý tưởng để thành lập cơ sở
chiến đấu lâu dài. Và có thể tin rằng Trung Quốc sẽ không ngồi yên, trơ
mắt ếch nhìn quyền lực Mỹ, Hàn, Nhật, phương Tây tiến đến sát biên giới
họ, nằm ngay bên hông họ, thành cái gai trong mắt họ.
Trung Quốc
và Nga cũng như các nước đang chống Mỹ như Iran, Syria, Palestine, Cuba,
Venezuela v.v. và cả cái khối châu Mỹ Latinh, trong đó có các nước giàu
mạnh như Argentina, Brazil có thể sẽ đứng về phía Triều Tiên. Trung
Quốc chắc chắn sẽ viện trợ. Nga sẽ không tham chiến như thời Liên Xô,
nhưng vẫn sẽ ủng hộ Triều Tiên nếu nước này bị tấn công.
Nhiều
người cho rằng nếu Mỹ huy động các đồng minh bu vào vây đánh hội đồng
Triều Tiên như đã làm với Afghanistan và Iraq thì sẽ dứt điểm được chính
quyền Bình Nhưỡng. Tuy nhiên khách quan mà nói thì sẽ khó mà bình định
được hay ít nhất làm yên ổn tình hình được như họ đã tạm thành công ở
Iraq hay Afghanistan khi họ thành công tiêu diệt truy đuổi Taliban và
treo cổ tổng thống Iraq Saddam Hussein. Tại Iraq có cả chục phe chống
báng lẫn nhau, chống vì quyền lực, vì niềm tin tín ngưỡng, vì lợi ích
tôn giáo... Afghanistan thì có 2 phe là Taliban và Al-Qaeda, mà 2 lực
lượng này ngoài việc chống Mỹ ra thì họ còn chống lẫn nhau, bắn giết
nhau, cho các sát thủ ám toán thủ lĩnh của nhau. Còn ở Triều Tiên thì
chỉ có 1 lực lượng duy nhất, thống nhất và đoàn kết dưới niềm tin về
"ánh sáng cách mạng Kim Nhật Thành" và "Chủ thể". Khác với hiện tình
"quần long vô thủ", "rắn không đầu" ở Iraq và Afghanistan.
Những quan điểm chính thức của CHDCND Triều Tiên
Theo
một số phim phóng sự của Triều Tiên, Trung Quốc, và phương Tây trên
Internet, Youtube, khu vực "North Korea" trong diễn đàn cánh tả
Soviet-Empire, và mày mò Google Translation các trang web chính thức của
chính phủ CHDCND Triều Tiên thì tôi thấy quan điểm chính trị của Triều
Tiên rất thú vị. Họ tuyên truyền nhiều vấn đề chỉ dựa vào sự chủ quan
duy ý chí mà không dựa trên sự thật và thực tế lịch sử khách quan, và
không phù hợp, tương đồng với những thông tin quốc tế, do đó họ phải
bưng bít các thông tin bên ngoài, kể cả từ Trung Quốc, Nga, Việt Nam và
các nước thân thiện với họ, bao gồm cả những nước cùng ý thức hệ vô sản.
Họ
sửa đổi tiểu sử của Kim Nhật Thành và giấu biệt lý lịch từng phục vụ
trong Hồng quân Liên Xô của ông. Họ giấu nhẹm yếu tố lãnh đạo của Mao
Trạch Đông đối với hai trong những tiền thân của quân đội Triều Tiên là
Quân đội Hỗn hợp kháng Nhật vùng Đông Bắc và Quân Tình nguyện Triều
Tiên, cũng như việc một số sĩ quan, chiến binh tiền bối của quân đội này
từng phục vụ trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Hồng quân
Nga. Trong khi những hồ sơ của Trung Quốc và Liên bang Nga vẫn ghi nhận
những thông tin này.
Hệ thống tuyên truyền của Bắc Triều Tiên cho
rằng họ đã chiến thắng trong chiến tranh Triều Tiên. Điều này rất buồn
cười vì họ đánh sang Hàn Quốc nhưng bị thống tướng MacArthur đánh bại,
bị đập không còn manh giáp, bỏ chạy tán loạn và toàn quân tan rã, chính
phủ phải lưu vong sang Trung Quốc và phải cầu viện Trung Hoa đánh giúp.
Họ không thống nhất được lãnh thổ, trái lại còn mất luôn một số lãnh thổ
gần vĩ tuyến 38 trước năm 1950 vốn thuộc về họ.
Nếu họ cho rằng
họ "thắng" vì đã đánh quân địch ra khỏi lãnh thổ CHDCND Triều Tiên thì
họ cũng lầm, đó là đại quân Trung Hoa do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ
huy đánh. Lúc đó quân đội Triều Tiên về cơ bản đã tan hàng rã ngũ. Cả
chóp bu lãnh đạo Đảng Lao động Triều Tiên lúc ấy phải trốn tránh trong
vùng Đông Bắc Trung Hoa. Hòa ước Bàn Môn Điếm theo cách nói của Triều
Tiên thì đó là một nơi mà Liên Hiệp Quốc - Mỹ - Hàn đã "ký kết đầu
hàng", trong khi ai cũng biết đó là một hiệp nghị đình chiến tạm thời.
Họ
thường tuyên truyền một chiều, phiến diện, không đầy đủ về những tiêu
cực trong xã hội Hàn Quốc. Theo họ thì đó là một xã hội đầy rẫy những sự
bất công và tệ nạn xã hội, nạn thất nghiệp, tham nhũng, đình công, biểu
tình xảy ra khắp nơi, khoảng cách giàu nghèo chênh lệch rất xa và ngày
càng chênh lệch. Tội phạm hình sự, buôn lậu, ma túy hoành hành. Nạn tự
tử, nhất là trong giới nghệ sĩ, chính trị và nhân vật nổi tiếng rất cao.
Nội bộ lãnh đạo Hàn Quốc rất mất đoàn kết và sợ Mỹ. Xã hội thác loạn,
mại dâm, công nghiệp tình dục và bệnh tình dục có nhiều. Thuốc lắc,
thuốc cấm lưu hành khắp nơi. Môi sinh bị ô nhiễm nặng nề. Họ tự hào đó
là những điều không tồn tại hoặc có rất ít ở Bắc Triều Tiên.
Ngoài
ra họ cũng có một số quan điểm đáng suy nghĩ. Họ luôn có một quan điểm
nhất quán rằng: Bán đảo Triều Tiên chưa thống nhất được là vì Mỹ. Mỹ
phải rút khỏi Hàn Quốc. Sau khi Mỹ rút khỏi Hàn Quốc thì 2 quốc gia sẽ
tiến hành hợp nhất trở lại thành 1 quốc gia như trước. Có Mỹ ở đó thì
không được, Mỹ là chướng ngại vật to lớn nhất cho mục tiêu thống nhất
Triều Tiên và chính sách Ánh Dương.
Họ cho là vì Mỹ mà hai anh em
bán đảo Triều Tiên bất hòa, dân tộc Triều Tiên thù ghét nhau. Mỹ không
những đã chia rẽ bán đảo Triều Tiên và còn ly gián dân tộc Triều Tiên.
Thế nên Mỹ tuyệt đối phải rời khỏi bán đảo Triều Tiên thì sự nghiệp
thống nhất quốc gia của hai bên mới có chuyển cơ tốt. Tuy nhiên, họ
không làm rõ khái niệm "rời khỏi" là thế nào, rút quân đội hay là ý nói
không can dự vào chuyện nội bộ Hàn Quốc, CHDCND Triều Tiên và bán đảo
Triều Tiên nữa? Chứ hiện nay Mỹ chỉ còn khoảng 1 vạn rưỡi quân đóng tại
Hàn Quốc.
Họ không chống Hàn Quốc, họ bảo "Hàn Quốc là anh em,
nhưng Mỹ phải cút ngay". Đối tượng thù địch mà họ nhắm vào chống đối chủ
yếu là Mỹ, Nhật, phương Tây, cũng như một số tổng thống và nhà lãnh đạo
cụ thể của Hàn Quốc có thái độ thần phục Mỹ quá đáng hoặc hung hăng
chống Triều Tiên. Những tổng thống Hàn Quốc bị họ lên án và đả kích nặng
nề nhất gồm có Lý Thừa Vãn, Phác Chính Hy (họ từng cho các đội đặc
nhiệm cảm tử đột nhập Nhà Xanh để ám sát Phác Chính Hy), và Lý Minh Bác
ngày nay. Tổng thống Hàn Quốc được họ khen ngợi nức nở nhất là Kim Đại
Trung và Lô Vũ Huyễn, hai vị tổng thống tiền nhiệm trước thời Lý Minh
Bác. Kẻ thù số 1 dĩ nhiên luôn là Mỹ, nhất là gia tộc Bush, tuy nhiên họ
lại khen ngợi hết lời tổng thống Clinton. Khi họ bắt giữ 2 nữ nhà báo
người Mỹ gốc Hoa, ông Bill Clinton sang Bình Nhưỡng giải quyết và họ đã
chấp thuận thả người.
Theo họ thì lính Hàn Quốc là một bọn lính
thuộc địa bị Mỹ lừa phỉnh, gạt gẫm, mua chuộc, dụ dỗ, đa số là bọn "ma
cô", chống cộng quá khích và rất "vô văn hóa", "vô giáo dục". Họ dẫn
chứng bằng cách kể lại quân lính Hàn ở biên giới rất nhiều lần đã xăm
mình bậy bạ tục tĩu, xúc phạm đất nước, nhà nước, và lãnh tụ của họ. Giơ
ngón giữa hoặc chửi thề bằng các từ lăng mạ tiếng Anh, phô bày các bộ
phận sinh dục, chửi bới lăng mạ các người lính Triều Tiên rất thậm tệ và
thô tục...
Họ nói rằng Hàn - Mỹ tập trận không phải là để tự vệ
mà là để thực tập tấn công vào Triều Tiên. Họ chỉ ra và phân tích chuyên
môn những buổi tập, bài tập mà không phải các bài tập trận phòng thủ,
mà là các bài tập trận tấn công. Cũng như một số vũ khí sử dụng trong
tập trận, vốn không phải là vũ khí phòng thủ mà là vũ khí tấn công (ví
dụ xe tăng, xe bọc thép).
Họ cho rằng "họ có sở hữu vũ khí hạt
nhân", và phát triển vũ khí hạt nhân là điều cần thiết để bảo vệ đất
nước trước âm mưu xâm lược của tất cả các kẻ thù, gồm Mỹ, Nhật, Hàn, và
phương Tây.
Họ giải thích rằng sở dĩ trước đây họ rút khỏi cuộc
đàm phán 6 bên là vì các nước chỉ biết đến lợi ích ích kỷ của mình, muốn
"chơi cha", hiếp đáp, có thái độ kẻ cả, "người lớn", "trịch thượng" và
đã không tôn trọng CHDCND Triều Tiên cũng như những lợi ích của CHDCND
Triều Tiên. Họ bị bao vây và "đánh hội đồng", 5 chọi 1, và đó là một sự
đàm phán không bình đẳng, do đó họ luôn yêu cầu đàm phám song phương mà
quyết không đàm phán đa phương. Họ không muốn các nước lớn đàm phán trên
lưng họ. Điều này có cơ sở, trong hội nghị quốc tế ở Genève, Thụy Sĩ
năm 1954 về vấn đề Đông Dương, Việt Nam, Lào, Campuchia đã bị các đế
quốc đàm phán sau lưng mình. Cho nên đến hội nghị ở Paris, Pháp về vấn
đề Việt Nam, VN đã rút kinh nghiệm từ hội nghị Genève, kiên quyết đàm
phán song phương với Mỹ chứ không chấp nhận đàm phán quốc tế.
Nhìn lại các diễn biến lịch sử trên bán đảo Đông Dương và bán đảo Triều Tiên
Lâu
nay một số người cố ý đánh đồng, xuyên tạc hoặc vô tình nhầm lẫn, ngộ
nhận bản chất của chiến tranh liên Triều trên bán đảo Triều Tiên và
kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam.
Đối với những người nhầm lẫn thì
đó là từ sự hời hợt, qua loa trong nhận thức, suy nghĩ, tư duy, đánh
giá, do họ chỉ nhìn thoáng qua bề ngoài, bề nổi, thấy hiện tượng có một
số điểm giống nhau liền cho rằng bản chất cũng giống nhau. Sự sai lầm
này chủ yếu xuất phát từ thói quen đem chuyện Việt Nam so sánh khập
khiễng với chuyện bên ngoài, hoặc đem chuyện bên ngoài so sánh khập
khiễng với chuyện Việt Nam. Trong khi cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên
và trên bán đảo Đông Dương có rất nhiều điểm khác nhau.
Mỗi bên,
mỗi nước, mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm lịch sử, chính
trị, con người, và những hoàn cảnh khách quan riêng biệt nên phải được
đánh giá riêng biệt thì mới hợp lý. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một bộ
phận trước đây từng là lính ngụy luôn cố ý đánh đồng vàng thau lẫn lộn
hai cuộc chiến này. Họ cố ý lờ đi các vấn đề khách quan, chỉ tiếp thu
những gì phù hợp với não trạng sẵn có của họ, với định kiến và thành
kiến vốn đã ăn sâu của họ, chứ không cần phân tích duy lý mà chỉ muốn
trang điểm xác chết bằng cách đeo mặt nạ hình người khác vào cho cái xác
đó.
Về bản chất, một kẻ là công cụ thừa hành của Mỹ, một kẻ là
đàn em, "đệ tử" chịu thua thiệt và lệ thuộc Mỹ. Khó mà so sánh. Hàn Quốc
tồn tại được và phát triển mạnh mẽ cho tới hôm nay là vì họ có tính
chính thống - chính danh - chính nghĩa nhất định và không phụ thuộc vào
Mỹ tới mức như ngụy quyền Sài Gòn. Ngụy quyền SG không tồn tại được là
vì nó chỉ là công cụ của Mỹ, khi Mỹ thua thì nó tất phải diệt vong. Cũng
như khi Pháp chạy thì ngụy quyền "Quốc gia Việt Nam" cũng chẳng thể tồn
tại.
Nhiều người có thói quen thích tự tưởng tượng chủ quan
trong đầu một cách duy ý chí rồi hỏi "nếu" này "nếu" nọ. Lịch sử không
có chữ "nếu" bao giờ. Lịch sử phát triển thế nào, có những kết quả ra
sao đều có nguyên nhân khách quan và tất yếu của nó, cái "nhân" lâu ngày
tích tụ thành cái "quả", có nguyên nhân mới có hậu quả. Lịch sử không
bao giờ là ngẫu nhiên, không bao giờ là hên xui may rủi, không bao giờ
như ném xí ngầu hay chơi bài mà có xác suất. Kết quả của một cuộc chiến
lớn lao luôn phụ thuộc vào nhiều cái nhân tích hợp lại lâu ngày cho ra
cái quả đó. Mà chủ yếu là phụ thuộc vào ai có chính nghĩa dân tộc, ai tự
vệ, ai xâm lược, ai có chính danh ai không, và quan trọng nhất là ai
được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, và vì sao họ được nhân dân ủng
hộ, giúp đỡ, nuôi giấu. Việt Nam có chính nghĩa nên Việt Nam thắng. Còn
hai phía bán đảo Triều Tiên không ai có chính nghĩa vượt hẳn phía bên
kia nên vẫn cứ giằng co cho tới ngày nay.
Trên bán đảo Triều Tiên
thì bối cảnh và diễn biến lịch sử khác với Việt Nam. Thời đó Triều Tiên
là thuộc địa của Nhật, đến khi Nhật thua thì lực lượng của Kim Nhật
Thành lúc đó vẫn chưa là gì cả. Tầm ảnh hưởng của lực lượng Kim Nhật
Thành vẫn còn rất hạn chế. Chưa có được lòng dân ở phía Nam bán đảo
Triều Tiên. Họ không có cái thế và lực để mà tuyên bố độc lập ngay lúc
đó. Và sau khi Liên Xô giải giáp quân Nhật ở phía Bắc, Mỹ giải giáp quân
Nhật ở phía Nam thì lúc đó Triều Tiên vẫn chưa có độc lập. Triều Tiên
vẫn chưa là 1 nước. Chưa có nước Triều Tiên trên bản đồ thế giới. Họ đã
bị chia ra ngay từ đầu. Còn Việt Nam thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc
tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thành
lập Nhà nước trước khi quân Đồng minh tiến vào. Quân Tàu Tưởng và liên
quân Anh - Pháp kéo vào VN là đi vào một quốc gia đã có chủ. Quân Liên
Xô và quân Mỹ kéo vào Triều Tiên là đi vào một vùng đất chưa có chủ.
Việt
Nam thành lập quốc gia, nhà nước, bầu cử Quốc hội, hoàn thành Hiến pháp
và khẳng định chủ quyền độc lập và thống nhất trên khắp 3 miền Bắc -
Trung - Nam trong khi "Quốc gia Việt Nam" của Pháp và "Việt Nam Cộng
hòa" của Mỹ không hề tồn tại, và mãi về sau mới được Pháp - Mỹ dựng lên.
Trong khi đó, Lý Thừa Vãn ở Nam Triều Tiên đã tuyên bố lập quốc trước
Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên.
Việt Nam không bao giờ công nhận
các ngụy quyền và nói chuyện với họ (VN muốn nói chuyện, muốn giải
quyết vấn đề gì, muốn đề xuất việc gì thì tìm Pháp, Mỹ mà nói), thì
trong khi đó, trên bán đảo Triều Tiên vào thập niên 1970 quan hệ hai
nước dần được cải thiện, và hai bên bán đảo Triều Tiên cùng công nhận sự
hợp pháp của nhau.
Năm 1976, Bình Nhưỡng đã chấp nhận lời đề
nghị của Hán Thành thành lập Ủy ban Hỗn hợp Nam Bắc để giải quyết vấn đề
tái hợp hai nước, thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng biện pháp hòa
bình, trên tinh thần hòa khí và hữu nghị. Đại biểu, lãnh đạo, quan chức
của hai quốc gia gặp gỡ nhiều lần tại thủ đô của hai bên nhưng không
mang lại kết quả gì đáng nói.
Năm 1991, cả hai nước chính thức
công nhận lẫn nhau để chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc cùng một lúc.
Mặc dù năm 1948 Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết công nhận Đại Hàn Dân
Quốc ngay sau khi Lý Thừa Vãn tuyên bố lập quốc, nhưng ngày 17 tháng 9
năm 1991 Hàn Quốc mới chính thức được kết nạp trở thành thành viên của
tổ chức Liên Hiệp Quốc, cùng ngày với CHDCND Triều Tiên.
Chiến
tranh Triều Tiên có 2 giai đoạn, giai đoạn 1 là cuộc chiến giữa quân đội
của viên tướng trẻ Kim Nhật Thành tràn ngập lãnh thổ từ phía Bắc vào
phía Nam, dồn quân Lý Thừa Vãn vào vùng Phú Sơn (Pusan) cố thủ. Quân đội
ngoại bang không có nhiều vai trò trong giai đoạn 1 này.
Giai
đoạn 2 là quân Trung Quốc chống nhau với các lực lượng Liên Hiệp Quốc do
Mỹ đứng đầu. Lúc này các chóp bu lãnh đạo CHDCND Triều Tiên đều lưu
vong ở Mãn Châu, Trung Quốc, không ở trong nước, còn quân đội Triều Tiên
về cơ bản đã tan rã. Quân đội Hàn Quốc trong giai đoạn 1 cũng đã không
còn bao nhiêu thực lực, do đó không có vai trò gì nổi bật trong giai
đoạn 2 này. Như vậy giai đoạn 1 là quân trong nhà chống nhau. Giai đoạn 2
là quân bên ngoài đánh nhau trên bán đảo Triều Tiên.
Trường hợp ở
Việt Nam thì khác, cuộc chiến ngay từ đầu đã diễn ra chủ yếu bằng lực
lượng tại chỗ ở miền Nam là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, kháng chiến chống Mỹ để giải
phóng miền Nam và thống nhất nước nhà. Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền
Bắc không dùng đại quân tấn công tổng lực vào miền Nam như trên bán đảo
Triều Tiên. Và thực tế chiến cuộc cũng cho thấy là miền Nam đánh
Mỹ-ngụy trực tiếp, miền Bắc chi viện và bổ sung. Lãnh đạo, chỉ huy thì
có cả người Nam và người Bắc.
Trong các phim tài liệu, chương
trình kỷ niệm về thương binh, liệt sĩ, cựu chiến binh, cựu thanh niên
xung phong trong kháng chiến chống Mỹ đã cho thấy rằng đa số họ là những
người quê quán ở miền Nam, nói tiếng Nam rặt. Ngay cả lực lượng bổ sung
từ miền Bắc cũng thường là những người miền Nam tập kết ra Bắc năm
1954, họ chỉ là về lại quê hương miền Nam hoạt động và chiến đấu chống
ngoại xâm. Do đó cuộc chiến này do lực lượng tại chỗ ở miền Nam chiến
đấu trực tiếp, do nhiều người miền Nam chỉ huy, miền Nam trực tiếp chống
Mỹ và tổn thất nhiều nhất.
Thống kê đã cho thấy số phụ nữ được
phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (theo tiêu chuẩn có ít
nhất 3 liệt sĩ là bản thân, chồng, hoặc con trai trong gia đình) ở miền
Nam nhiều gần gấp đôi ở miền Bắc. Miền Nam có 29.220 người, miền Bắc có
15.033 người, cho thấy quân đội, đảng viên, cán bộ miền Nam đã vị quốc
vong thân nhiều hơn miền Bắc.
Nhiều cán bộ, đảng viên, lãnh đạo,
tướng lĩnh, quân nhân làm việc, công tác ở ngoài Bắc cũng từ miền Nam.
Nhiều trường miền Nam đã được xây dựng ở Hải Phòng, Hà Nội và nhiều
thành phố để nuôi dạy các “hạt giống đỏ” thiếu nhi miền Nam ở hậu phương
lớn, để cha mẹ của các bé yên tâm chiến đấu ngoài tiền tuyến lớn.
Trong
những cuộc biểu tình chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, giới
trẻ, thanh niên, sinh viên Sài Gòn và cả miền Nam giương cao những băng
rôn, biểu ngữ ủng hộ, ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Lao động Việt
Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, giương cao quốc kỳ, cờ Mặt
trận, cờ Đảng (cờ búa liềm), giương cao hình Bác Hồ, hình đại tướng Võ
Nguyên Giáp. Trong khi đó ngày nay những cuộc biểu tình phản đối Mỹ và
Lý Minh Bác của người dân Hàn Quốc chúng ta thấy họ phản đối Mỹ (nhẹ
nhàng hơn) và hoàn toàn không có một biểu ngữ, khẩu hiệu nào tỏ thái độ
ủng hộ Kim Chính Nhật, chính thể họ Kim, Đảng Lao động Triều Tiên hay
CHDCND Triều Tiên, cũng không thấy ai giơ cao quốc kỳ CHDCND Triều Tiên
hay cờ Đảng Lao động Triều Tiên, cũng không ai giơ lên hình Kim Nhật
Thành, Kim Chính Nhật như ở Bắc Triều Tiên.
Đó là những sự khác
biệt thấy rõ về lòng dân ở Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên. Tại Hàn Quốc,
một bộ phận tuy ghét Mỹ, ghét chính phủ Hàn Quốc, nhưng họ không theo
Bắc Triều Tiên. Họ không đào hầm nuôi giấu các điệp viên Triều Tiên, nếu
gặp có khi họ còn gọi điện thoại báo cảnh sát. Họ cũng không có gởi con
em, con cháu đi theo CHDCND Triều Tiên. Tại miền Nam VN thì người dân
miền Nam theo Đảng, theo Bác Hồ, bà mẹ miền Nam gởi con ra Bắc đã dặn:
"Con ra thưa với cụ Hồ, Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao". Người dân Nam
VN đào hầm nuôi giấu cách mạng và cho con em, con cháu mình ra bưng
biền, ra chiến khu, ra những vùng giải phóng theo kháng chiến.
Có
thể thấy, cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên mang tính chất nội chiến
trong giai đoạn đầu, và mang tính chất quốc tế, hoàn toàn là quân đội từ
bên ngoài ngoài đánh với nhau trong giai đoạn sau. Còn cuộc chiến ở
Việt Nam là cuộc chiến chống xâm lược nằm trong một bối cảnh mâu thuẫn
quốc tế giữa hai thế lực hùng mạnh.
Bản chất của cuộc chiến trên
lãnh thổ Việt Nam và trên bán đảo Triều Tiên như đã phân tích ở trên, là
rất khác nhau. Bản chất nó khác nhau vì bối cảnh lịch sử và diễn biến
lịch sử trên đất Việt Nam và bán đảo Triều Tiên là khác nhau, và còn
nhiều nhân tố, yếu tố khác nhau. Bây giờ chúng ta hãy xem xét kỹ lại về
góc độ Quốc hội và luật pháp:
1. Năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn độc lập, đánh dấu một mốc son lịch sử khi Việt Nam giành
được độc lập từ tay phát xít Nhật, với quốc hiệu chính thức là Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Theo đó nước Việt Nam DCCH là 1 nước thống nhất từ Bắc
chí Nam. Các văn bản có giá trị pháp lý sau đó như: Hiến pháp 1946,
tuyên cáo 12 khu hành chính của nước VNDCCH cuối năm 1946 đều khẳng định
việc này, trong lúc trên đất Việt không hề tồn tại bất kỳ một quốc gia,
nhà nước, chính thể, chính quyền, ngụy quyền nào khác.
Ngay cả
Hiệp định Genève về Đông Dương cũng chỉ công nhận làn ranh giới tuyến
quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử, tạm chia làm 2 vùng
tập trung quân sự cho 2 bên tập kết chứ không nói gì đến vấn đề thay đổi
lãnh thổ. Theo Hiệp nghị Genève về Đông Dương, vĩ tuyến 17 không phải
là làn ranh có ý nghĩa về lãnh thổ, chính trị, hay địa lý. Hiệp nghị này
không có ý nghĩa chia đôi đất nước về lãnh thổ và chính trị. Như vậy rõ
ràng miền Nam Việt Nam vẫn thuộc lãnh thổ của VNDCCH được nhân dân ở cả
2 miền công nhận và ủng hộ. Hiến pháp 1959 cũng nhắc lại; Nam Bộ là
thành đồng của Tổ quốc, là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam, là
bộ phận máu thịt của Việt Nam.
2. Pháp vào xâm lược lần nữa. Chín
năm trường kỳ kháng chiến đã kết thúc sau trận Điện Biên Phủ chấn động
khắp thế giới. Câu "Việt Nam - Hồ Chí Minh - Giáp, Giáp, Giáp" trở thành
câu nói quen thuộc trong dư luận thời đó.
3. Hiệp định Genève về
Đông Dương được ký kết. Tạm thời chia VN thành hai vùng tập kết quân
sự, lấy vĩ tuyến 17 làm một làn ranh giới tuyến quân sự tạm thời trong
vòng 2 năm, từ 1954 đến 1956, để chờ đợi tổng tuyển cử toàn quốc năm
1956, chọn ra lãnh đạo cho nhiệm kỳ mới, đồng thời chính thức thống nhất
Việt Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam của Việt Minh tập kết ra Bắc, trên
vĩ tuyến 17. Quân đội Pháp-ngụy tập kết vào miền Nam, dưới vĩ tuyến 17.
4.
Thực dân Pháp ở miền Nam lật lọng. Dùng những xảo thuật chính trị, thủ
đoạn chính trị củng cố ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại có cái tên mỹ miều là
“Quốc gia Việt Nam” mà họ thành lập từ năm 1949, từ đó bọn tay sai Pháp
tự nhận mình là “người Quốc gia”, “thành phần Quốc gia”, “đảng phái Quốc
gia”, “chính phủ Quốc gia”, “quân đội Quốc gia”, “lính Quốc gia”,
“chiến sĩ Quốc gia” v.v. Người Pháp mưu toan dàn dựng một "miền Nam độc
lập", “tự trị”, mưu đồ chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Sau năm 1948, con
bài "Nam Kỳ tự trị", “Nam Kỳ độc lập”, “Nam Kỳ Cộng hòa quốc” do Nguyễn
Văn Thinh đứng đầu không còn giá trị, Pháp phế bỏ ngụy quyền bù nhìn
này và nặn ra "chính phủ Quốc gia" với ông vua bù nhìn Bảo Đại làm "quốc
trưởng", Nguyễn Văn Xuân làm "thủ tướng", và tiếp tục củng cố và nuôi
dưỡng ngụy quyền này sau năm 1954.
5. Quyền lực Mỹ dần lấn lướt,
lấn át Pháp tại miền Nam. Qua nhiều cuộc đấu đá lẫn nhau tranh giành ảnh
hưởng, Mỹ đã thành công hất cẳng Pháp ra khỏi chính trường miền Nam
Việt Nam. Mỹ đem Ngô Đình Diệm từ Mỹ về và đưa lên làm “tổng thống”.
Mỹ-Diệm cưỡng từ đoạt lý bảo rằng Mỹ và “Quốc gia Việt Nam” (Trần Văn
Hữu làm đại diện thay Bảo Đại đi dự hội nghị Genève) không có ký vào
hiệp định cho nên không có trách nhiệm thi hành tổng tuyển cử. Đây là sự
ngụy biện rõ ràng vì đây là hiệp định thực thi trên một lãnh thổ, cho
dù có thay đổi chính phủ, chính thể thì lãnh đạo mới vẫn phải thực thi
trách nhiệm của hiệp định đó lên trên lãnh thổ đã được xác định trên
giấy trắng mực đen. Và thế là từ đây, Mỹ đã thành công chia cắt lâu dài
nước Việt Nam DCCH, chiếm mất nửa nước của VNDCCH, và cuộc kháng chiến
chống xâm lược của nhân dân Việt Nam bắt đầu từ đó và kéo dài đến năm
1975.
Sau khi điểm lại các sự kiện lịch sử cùng với các mốc lịch
sử, thì có thể thấy nước Việt Nam DCCH – CHXHCN Việt Nam đáng lẽ đã là 1
nước độc lập - thống nhất từ năm 1945. Nhưng các thế lực ngoại bang,
nhất là Pháp và Mỹ đã phá hoại sự thống nhất, độc lập của nước VNDCCH.
Họ vào miền Nam - nơi duy trì các sức mạnh chính trị, quân sự, kinh tế
của họ - liên tục tạo ra hết ngụy quyền này đến ngụy quyền khác. Từ ngụy
quyền Trần Trọng Kim của Nhật đến ngụy quyền Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn
Thinh, ngụy quyền / ngụy triều Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại của Pháp, rồi
đến ngụy quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu của Mỹ.
Việt
Nam năm 1945 đã có độc lập và chính danh trên toàn quốc, và đáng lẽ đã
thống nhất, hòa bình vào năm 1956 (tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc).
Do đó, kể từ năm 1945 trở đi, và nhất là từ năm 1946 khi Quốc Hội đầu
tiên của nước Việt Nam được bầu, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời,
thì bất cứ kẻ ngoại bang nào tiến vào lãnh thổ nước ta nặn ra các ngụy
quyền, xây dựng quân đội bản xứ để phục vụ cho các chính sách và chiến
lược của họ thì rõ ràng là sai trái và đó là hành động vi phạm chủ
quyền, xâm lăng, tiến hành chiến tranh xâm lược.
Sau Cách mạng
tháng Tám, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay Nhật - Pháp sau gần
100 năm Pháp thuộc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được nhân dân cả
nước bầu ra thông qua cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội trong toàn quốc diễn
ra vào tháng 1, năm 1946. Kỳ bầu cử này cũng bầu ra Quốc hội khoá 1 hoạt
động cho đến nay.
Như vậy, chính quyền này là chính quyền của
toàn dân, do nhân dân trong cả nước, từ Bắc chí Nam, khắp 3 miền: Miền
Bắc, miền Trung, và miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu ra một
cách hợp pháp. Chính quyền này tồn tại liên tục và kế tục một cách hợp
pháp liên tiếp, nối tiếp nhau từ đó đến nay. Do đó, bất kỳ chính quyền
nào khác do ngoại bang thành lập sau này, không do người dân toàn quốc
bầu ra, đều có thể được coi là một ngụy quyền bất hợp pháp, không hợp
lệ.
Người viết muốn nhấn mạnh đến hai vấn đề, thời điểm:
-
Cuộc Tổng Tuyển Cử toàn quốc bầu cử ra Quốc Hội khoá 1 của chính quyền
non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập diễn ra trong cả
nước, về địa lý bao gồm cả ba miền Bắc, Trung, Nam, với hơn 90% số cử
tri đăng ký tham gia. Quốc hội khoá 1 đã bầu ra một chính phủ nắm quyền
lãnh đạo đất nước trong hoàn cảnh và thời điểm ở Việt Nam không tồn tại
bất kỳ chính quyền nào được bầu ra theo thể thức như vậy. Quốc hội khóa
này, được bầu một cách hợp pháp và đại diện cho toàn thể nhân dân Việt
Nam, đã hoạt động cho đến ngày nay.
- Chỉ rất lâu sau khi chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên Ngôn Độc Lập và tuyên bố nước ta hoàn toàn
độc lập, khẳng định chủ quyền trên khắp Việt Nam, bầu cử Quốc hội xong,
chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập và đang hoạt động
hợp hiến, hợp pháp từ lâu, thì một loạt chính phủ bù nhìn khác ở miền
Nam Việt Nam được các thế lực ngoại bang thành lập; Nguyễn Văn Thinh,
Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu
v.v. Như vậy, bất cứ can thiệp quân sự nào từ nước ngoài kéo đại quân
vào lãnh thổ của một nước Việt Nam đã độc lập, đã thống nhất thì đó là
xâm lược. Hành động thành lập liên tục các ngụy quyền ở Nam Bộ của
VNDCCH cũng là một hành động xâm lược.
Xin lưu ý ở đây là nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ngày nay trên nguyên tắc theo luật pháp là một quốc gia độc
lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ từ 1945, bao gồm miền Bắc, miền
Trung và miền Nam. Hiệp định Genève về Đông Dương chỉ có ý nghĩa phân
định ranh giới quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử toàn
quốc chứ không phải là “hiệp định chia đôi đất nước” như quân xâm lăng
tuyên truyền. Lãnh thổ VNDCCH bao gồm Bắc, Trung, Nam, là quốc gia thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ từ năm 1945 chứ không phải “VNDCCH chỉ có ở
miền Bắc" như Pháp-Mỹ-ngụy tuyên truyền.
Nếu ở bên ta, Mỹ phủ
nhận tổng tuyển cử theo hiệp định Genève về Đông Dương vì biết chắc Hồ
Chí Minh sẽ thắng; thì ở Triều Tiên, vào tháng 11 năm 1947, Hội đồng
Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng tuyển cử tại Hàn
Quốc dưới sự hỗ trợ của một ủy ban của LHQ. Mỹ yêu cầu tổng tuyển cử vì
biết chắc Lý Thừa Vãn sẽ thắng do Nam Triều Tiên dân số gần gấp đôi Bắc
Triều Tiên. Lần này Liên Xô và chính Kim Nhật Thành từ chối. Lý Thừa Vãn
trước đó đã kích động lòng yêu nước của Kim Cửu và lợi dụng ông làm
"thuyết khách" đi Bình Nhưỡng một chuyến để thuyết phục Kim Nhật Thành
chịu tổng tuyển cử, Kim Nhật Thành từ chối và hai người tranh cãi to
tiếng và Kim Cửu phải chán nản ra về.
Hàn Quốc cũng có nền công
nghiệp quốc phòng riêng và khá mạnh, theo bài phân tích “Tiềm Lực Quân
Sự Hàn Quốc” trên báo An ninh Thế giới thì Hàn Quốc có khoảng 80% vũ khí
là tự chế. Còn ngụy quyền Sài Gòn năm xưa Mỹ phát đến đâu là đánh đến
đó, ngay cả công nghiệp dân sự còn không có thì nói gì đến công nghiệp
quốc phòng. Cái gọi là "VNCH" này do Mỹ nuôi, quân đội và nhân sự do Mỹ
huấn luyện và trả lương, bao trọn gói, kinh tế hoàn toàn phụ thuộc Mỹ.
Thị trường do tư bản Mỹ nắm gọn, thao túng. Trong thời Mỹ trước 1975,
trong những vùng tạm chiếm hầu như không có hàng nội, hầu hết đều là
hàng ngoại, đặc biệt là hàng Mỹ.
Trong khi ở miền Bắc và những
vùng giải phóng ở miền Nam thời đó có rất nhiều xưởng quân giới chế tạo
các loại vũ khí, trong đó có nhiều vũ khí đặc thù Việt Nam, phù hợp với
người dùng VN, môi trường VN, không gian VN như súng trường Phan Đình
Phùng, súng Ngựa trời do các xưởng quân giới ở Bến Tre chế tạo, Tiểu
liên Sten do xướng quân giới Nam Định chế tạo năm 1946, lựu đạn, mìn,
thủy lôi, súng ngắn, bom ba càng, súng cối 60mm, Đạn phóng bom, xưởng
quân giới AL1 chế tạo năm 1948, Súng phóng lựu làm từ thân súng trường
Mas và súng cối 63mm, quân giới Nam Bộ chế tạo, Súng phóng lựu, bom bay,
đạn cối 187mm, quân giới Việt Bắc chế tạo, Ống đạp lôi v.v. và nhiều
sửa chữa, nâng cấp, cải tiến khác của Quân giới Việt Nam. Kỹ sư Trần Đại
Nghĩa là một nhân tài hiếm có và đã đóng góp rất nhiều cho ngành quân
giới Việt Nam.
Năm 1975, Mỹ chỉ cần cắt giảm viện trợ quân sự
(viện trợ kinh tế thì không thay đổi bao nhiêu) xuống còn 700 triệu USD
thì ngụy đã không sống nổi và trút hơi thở cuối cùng ngay vào năm đó.
Ngụy không thể sống, không thể thở, không thể tồn tại nổi khi được nuôi
dưỡng không đầy đủ. Ngược lại, bây giờ nếu Mỹ buông Hàn Quốc ra thì tin
chắc Hàn Quốc vẫn sống được, dù có thể sẽ không mạnh bằng khi có
Washington chống lưng.
Hàn Quốc có sự độc lập chủ quyền và tự chủ
nhất định. Quân đội họ tự thân chiến đấu. Trong khi lính ngụy ở Việt
Nam do quan thầy Pháp / Mỹ huấn luyện và có mặt trong từng đơn vị tiểu
đoàn để điều khiển và kiểm soát chặt chẽ. Quân đội ngụy ở VN chủ yếu
được Pháp, Mỹ coi là những tấm bia thịt đỡ đạn để quân đội chính quốc đỡ
thương vong (xem sách lược Da vàng hóa chiến tranh thời Pháp, chiến
dịch Hạ Lào, sách lược Phi Mỹ hóa - Việt Nam hóa chiến tranh thời Mỹ).
Còn
một khác biệt khá rõ nữa là ngụy quyền ở VN không là cái gì quan trọng
cả. Có nó hay không có nó thì hai bên Việt - Mỹ vẫn có chiến tranh.
Không có nó hay có nó đều không ảnh hưởng nhiều tới cục diện và không
thay đổi cục diện. Ngụy Sài Gòn không có vai trò gì đáng kể trong chiến
tranh ngoại trừ vai trò làm người chỉ biết nói yes (yes-man), làm cái
máy ký tên vào tất cả những văn kiện gì mà Mỹ đưa cho (dám không ký thì
“ông” cho ăn đạn, gương Diệm sờ sờ), và với vai trò của những tay chân,
sai vặt chỉ đâu làm đó, Thiên Lôi sai đâu đánh đó.
Nếu cần thì Mỹ
sẵn sàng vắt chanh bỏ vỏ, giết chết và kéo kẻ này xuống, dựng kẻ kia
lên, giật dây đảo chính để thay đổi tay sai. Trong chiến tranh chống
Việt Nam, có những lúc Mỹ thay tay sai như thay áo, liên tục bật đèn
xanh đảo chính, giết người này, phế người kia, lưu đày người nọ, lập
người khác theo ý mình, phế Bảo Đại, giết Diệm, đày Khánh, dựng Thiệu,
răn Kỳ. Hoàn toàn lũng đoạn và thao túng, kiểm soát và điều khiển chính
trường ở Nam Việt Nam, nắm chắc trong tay miền Nam của Việt Nam, giữ
miền Nam của VN trong quỹ đạo Hoa Kỳ. Giữ đàn chim của mình bay đúng
hướng.
Các tướng tá, sĩ quan Hàn Quốc cũng hiếm có người từng
phục vụ cho đế quốc Nhật trong lúc người Nhật đô hộ bán đảo Triều Tiên.
Đa số họ cũng là những người chống Nhật. Trong khi đó tướng tá, sĩ quan
ngụy Sài Gòn đa phần đã từng phục vụ cho đế quốc Pháp trong thời Pháp
thuộc. Có Pháp tịch, nói tiếng Pháp, đeo huân chương Pháp, học ở Pháp,
được Pháp phong chức, trả lương, đào tạo, nuôi dưỡng. Nhiều gia đình có
“thành tích” làm việc cho thực dân Pháp nhiều đời, đàn áp nghĩa quân
khốc liệt. Có cả những tên nói tiếng Tây thạo hơn tiếng ta, nói tiếng mẹ
đẻ bập bõm (như tướng Nguyễn Văn Hinh). Có cả những tên chỉ huy lính
ngụy trong trận Điện Biên Phủ bên cạnh người Pháp, phất cờ Tam tài, hát
quốc ca Pháp (như tướng Phạm Văn Phú). Quân đội “Việt Nam Cộng hòa” được
xây dựng và phát triển từ quân đội “Quốc gia Việt Nam” thời Pháp, từ
lực lượng ngụy quân nòng cốt và những tay sai đắc lực của thực dân Pháp.
Gs.
Nguyễn Mạnh Quang, là giáo sư khoa Sử - địa ở miền Nam Việt Nam trước
năm 1975, hiện nay là giảng viên khoa Lịch sử Hoa Kỳ tại Sở Học Chánh
Tacoma, bang Washington, Hoa Kỳ, đã nhìn nhận:
"Thật tình mà
nói, giới lãnh đạo quân sự và chính trị của hai chế độ đệ nhất và đệ nhị
Việt Nam Cộng hòa là một lũ tay sai của Pháp đào tạo để phục vụ cho
thực dân Pháp cho nên trong máu họ mang tính tay sai lúc nào cũng nhìn
trước ngó sau ông chủ có vừa lòng hay phật ý cho nên khi nắm quyền lãnh
đạo ở Sàigòn nhưng mắt cứ để ý ở Washington, Paris, Rome. Trong số này
cũng có nhưng rất hiếm người có lòng với quốc gia dân tộc thì lại bị tập
đoàn Ngô Đình Diệm loại bỏ bằng nhiều hình thức. Trong quân đội và hành
chánh có nhiều người trẻ được đào tạo sau khi thực dân Pháp cáo chung,
họ có tài có tâm huyết song không phải là cấp chỉ đạo mà là những kẻ
thừa hành thì làm được gì vì quyền cao chức trọng nằm trong tay đám tay
sai của thực dân Pháp đào tạo quyết định."
Sau chiến tranh Mỹ
- Việt, nhiều cựu binh Hàn Quốc đã trở lại Việt Nam giúp đỡ, hợp tác,
đầu tư, tỏ thành ý hối hận đã đánh thuê cho Mỹ ở VN và gây ra nhiều tội
ác, thảm sát, và đã có nhiều hành động thiết thực để chuộc tội. Một số
cựu sĩ quan Hàn Quốc viết sách hồi ức, hồi ký bày tỏ lòng ngưỡng mộ và
khâm phục đối với tinh thần yêu nước và ý chí quyết tử của người Việt
Nam trong chiến tranh chống Mỹ, cũng như lòng quả cảm, không sợ chết,
không sợ gian nguy đói khổ, và năng lực chiến đấu tuyệt vời của những
chiến binh Việt Cộng, và lên án tội ác của Mỹ và chính quân đội Hàn Quốc
ở Việt Nam.
Do đó, bản chất của chiến tranh Việt - Mỹ và chiến
tranh liên Triều là rất khác nhau. Bối cảnh lịch sử và các diễn biến
lịch sử trên đất bán đảo Đông Dương và trên bán đảo Triều Tiên cũng khác
nhau. Vì vậy thật phi lý khi đánh đồng 2 cuộc chiến tranh này với nhau,
thể hiện một sự mơ hồ không nắm vững lịch sử.
oOo
Bán
đảo Triều Tiên vẫn còn bị chia cắt, dân tộc Cao Ly vẫn chưa có được
hoàn toàn độc lập, thống nhất, và trên danh nghĩa thì chiến tranh vẫn
còn đang tiếp diễn, quốc gia này vẫn chưa có hòa bình thật sự vì cho đến
nay vẫn không có một hiệp ước hòa bình nào được ký kết, trên phương
diện pháp lý và nguyên tắc kỹ thuật thì bán đảo Triều Tiên vẫn còn đang
trong tình trạng chiến tranh, mặc dù Trung Quốc - Triều Tiên và Liên
Hiệp Quốc đã ký kết Hiệp ước Đình chiến tạm thời vào năm 1953.
Luật
Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin
nào từ phía Triều Tiên. Dưới thời tổng thống Lô Vũ Huyễn, đã có một
phong trào rộng lớn của một bộ phận người Hàn Quốc đòi dỡ bỏ luật này,
mặc dù có thái độ thân Triều, nhưng dưới áp lực của Mỹ, những phong trào
này đã bị tổng thống ra lệnh đàn áp, dập tắt, và hiện tại nó vẫn không
được thực thi. Trong khi đó, chính quyền Hàn - Mỹ vẫn vỗ ngực khẳng định
rằng công dân Hàn Quốc có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tự do thông tin.
Tại Hoa Kỳ, cuộc chiến Triều Tiên đã không nhận
được sự chú ý của nhiều người như Thế chiến 2 hoặc cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam, vì vậy nó đôi khi được gọi là “Cuộc chiến bị lãng quên”
(The Forgotten War). Nhưng làm sao lãng quên được khi cuộc chiến thực
chất vẫn đang diễn ra trên bán đảo Triều Tiên, một cuộc chiến tiềm tàng,
âm ỉ không tiếng súng. Nhưng tiếng súng không biết sẽ nổ ra lúc nào.
Không ai nghĩ ra được giải pháp cho 1 Triều Tiên thống nhất, và cũng
không ai có thể đoán được tình hình trên bán đảo này sẽ diễn ra như thế
nào. Có thể chỉ nay mai sẽ thống nhất. Cũng có thể sẽ không bao giờ
thống nhất, mà sẽ chia hẳn, ly khai vĩnh viễn thành các quốc gia khác
nhau như Ấn Độ (chia 4), Columbia (chia 3), Hà Lan (chia 3), Tiệp Khắc
(chia 2)...
Thiếu Long
Tài liệu tham khảo
- John Feffer, North Korea South Korea: U.S. Policy at a Time of Crisis, Seven Stories Press, 2003
- Kang, Chol-Hwan (2001). The Aquariums of Pyongyang. Basic Books, 2001
-
Mitchell B. Lerner, The Pueblo Incident: A Spy Ship and the Failure of
American Foreign Policy, University Press of Kansas, 2002
- Oberdorfer, Don. The two Koreas: a contemporary history. Addison-Wesley, 1997
- Kong Dan Oh, and Ralph C. Hassig, North Korea Through the Looking Glass, The Brookings Institution, 2000
- Barnouin, Barbara; Yu, Changgeng (2006). Zhou Enlai: A Political Life. Hong Kong: Chinese University Press
-
Chen, Jian (1994). China's Road to the Korean War: The Making of the
Sino-American Confrontation. New York: Columbia University Press
- Cumings, Bruce (1981). Origins of the Korean War. Princeton University Press
- Dear, Ian; Foot, M.R.D. (1995). The Oxford Companion to World War II. Oxford, New York: Oxford University Press
Stein, R. Conrad (1994). The Korean War: "The Forgotten War". Hillside, NJ: Enslow Publishers
-
Bermudez, Joseph S. (2001). Shield of the Great Leader. The Armed
Forces of North Korea. The Armed Forces of Asia. Sydney: Allen &
Unwin
- Homer T. Hodge, North Korea’s Military Strategy, Parameters, Spring 2003
- The International Institute for Strategic Studies (IISS) (2007). The Military Balance 2007. Abingdon: Routledge Journals
- Goncharov, Sergei N., Lewis, John W. and Xue Litai, Uncertain Partners: Stalin, Mao, and the Korean War (1993)
- Kim Il-sung (2003). With the Century. Korean Friendship Association.
- Baik, Bong. Kim Il Sung: Biography. Tokyo: Miraisha, 1969–1970. 3 vols.
- Cheong, Seong-Chang. "Stalinism and Kimilsungism: A Comparative Analysis of Ideology and Power". Asian Perspective 24.1 (2000)
-
Kang, Kwang-Shick. "Juche Idea and the Alteration Process in Kim Il
Sung's Works: A Study on How to Read Kim Il-Sung's Works". Monash
University: KSAA Conference 2001. 25 September 2001
- Kiernan, Ben. The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia Under the Khmer Rouge, Yale University Press, 2002
- Kim, Jong-il. On the Juche Idea. 31 March 1982.
-
Lee, Chae-Jin. "China and North Korea: An Uncertain Relationship".
North Korea after Kim Il Sung. Eds. Dae-Sook Suh and Chae-Jin Lee.
Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers, 1998
- Sấm sét trên Thái Bình
Dương, Tác giả: Albert Vulliez, Người dịch: Người Sông Kiên - Lê Thị
Duyên, Nhà xuất bản: Sông Kiên, Năm xuất bản: 1974
- Ngọn lửa chiến tranh lạnh (Lãnh chiến phong hoả), Tác giả: Lý Kiện (Trung Quốc), Nhà xuất bản: Thanh Niên
- "Phật giáo Đại Hàn, trước những thử thách lịch sử", Tác giả: Trần Quang Thuận, Tu viện Quảng Đức xuất bản, 2004
- Hiến pháp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, 1972 (bản Anh ngữ)
- Tài liệu Internet