Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh Mỹ Lady Borton là một người gắn bó với Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, bà là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Nam - Bắc thời chiến tranh.
Hiển thị các bài đăng có nhãn võ nguyên giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn võ nguyên giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Nhà văn Mỹ và những bản dịch về Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Bà Lady Borton là người dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về hai nhân vật lịch sử, đó là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.
Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh Mỹ Lady Borton là một người gắn bó với Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, bà là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Nam - Bắc thời chiến tranh.
Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh Mỹ Lady Borton là một người gắn bó với Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, bà là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Nam - Bắc thời chiến tranh.
Thơ: Danh tướng Võ Nguyên Giáp dưới ngọn cờ đào
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng dân tộc của Việt Nam. Cũng như bao nhiêu người khác, mình buồn chán chẳng muốn làm gì. Lòng muốn viết gì đó nhưng không biết viết gì. Có vô số sách báo, bài nghiên cứu, tham luận trong và ngoài nước về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết, ông là một người anh hùng dân tộc kiệt xuất. Người anh cả đáng kính của quân đội Việt Nam và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Về thuần túy quân sự, có thể xem ông là một trong những trí tướng, quân sư, mưu sĩ với trí tuệ quyền mưu bậc nhất Việt Nam và thế giới xưa nay. Không phải ngẫu nhiên mà các chuyên gia quân sự, các nhà khoa học quân sự trên thế giới gọi ông là một thiên tài quân sự, một danh tướng kiệt xuất lỗi lạc của thế kỷ.
Mình không có bài viết gì. Xin được làm một bài thơ miêu tả sơ lược đại cương lại võ công sáng chói và đại nghiệp rực rỡ của ông, gắn liền với lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Bài thơ theo thể loại tự do, để viết cho được tự do thoải mái, không bị gò bó bởi các quy luật, kỹ thuật, vần điệu, những cái hình thức bề ngoài này cũng rất quan trọng cho bài thơ nghe hay, tuy nhiên, trong trường hợp này thì chất lượng nội dung là quan trọng trên hết.
Mình không có bài viết gì. Xin được làm một bài thơ miêu tả sơ lược đại cương lại võ công sáng chói và đại nghiệp rực rỡ của ông, gắn liền với lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Bài thơ theo thể loại tự do, để viết cho được tự do thoải mái, không bị gò bó bởi các quy luật, kỹ thuật, vần điệu, những cái hình thức bề ngoài này cũng rất quan trọng cho bài thơ nghe hay, tuy nhiên, trong trường hợp này thì chất lượng nội dung là quan trọng trên hết.
Phim tài liệu: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Xin giới thiệu với các bạn một bộ phim tài liệu rất hay và tình cảm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh hùng dân tộc, người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một thiên tài quân sự, người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
17/2 không phải là ngày kỷ niệm chiến thắng biên giới phía Bắc 1979
Vào những ngày này 34 năm trước (1979), bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh bất ngờ xua hơn 50 vạn quân vượt biên cương, hùng hổ xua quân đánh thẳng vào 6 tỉnh miền Bắc Việt Nam, mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.
Đất nước Việt Nam lúc bấy giờ đang là một đất nước mang đầy thương tích chiến tranh, chịu nhiều hậu quả chiến tranh tàn khốc, chịu đựng gần 9 triệu tấn bom và chất độc hóa học, nhiều gần gấp 3 lần tổng số bom cả thế giới rải vào nhau trong 2 cuộc Thế chiến. Việt Nam vừa trải qua thời kỳ chiến tranh dài nhất trong Việt sử và một trong các thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế giới.
Quân đội Nhân dân Việt Nam lúc đó đang là một quân đội mang đầy vết thương chiến tranh chưa lành, đang vướng chân và chịu gánh nặng Campuchia, phải bổ sung nhiều lính mới cho chiến trường ở cả hai đầu đất nước, phía Nam và phía Bắc.
Song quân ta, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, TBT Lê Duẩn, và sự tham mưu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã đánh bại và đẩy lùi hơn 50 vạn quân Trung Quốc xâm lược, gây cho chúng những tổn thất vô cùng lớn lao. Kết quả là chúng phải đơn phương lui binh về nước sau những thiệt hại nặng nề. Nhục nhã chuồn nhanh trước khi quân chủ lực Việt Nam ra Bắc.
Sau 1 tháng thử lửa, Bắc Kinh thừa biết rằng nếu ngay cả những tân binh địa phương, bạch đầu quân, nữ du kích, dân quân, tự vệ mà họ còn không vượt qua nổi, thì chắc chắn họ không có cơ hội nào cầm cự nổi với lực lượng đại quân, tinh binh, các lực lượng chủ lực, thiện chiến, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chiến công của Việt Nam, những sư đoàn vừa mới giao chiến và đánh bại đạo quân vô địch Hoa Kỳ cách đây không lâu.
Đó là lý do Trung Quốc phải bắt đầu rút quân từ ngày 5 tháng 3. Việt Nam nói rằng sẽ thả cho Trung Quốc rút về, nhưng sau đó bất ngờ đón đánh, truy kích, phục kích nhiều nơi để răn đe, trả đũa. Do đó mà chiến sự tiếp diễn nhiều nơi. Và phải đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 thì Trung Quốc mới hoàn thành việc rút quân sau 13 ngày lui binh "trầy da tróc vẩy".
Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh luôn tạo ra niềm cảm hứng viết bài trong tôi, đặc biệt là cuộc chiến này. Đây là một sự kiện lịch sử lớn, là một cuộc chiến tranh lớn, đến nỗi có học giả nước ngoài còn gọi đây là "Chiến tranh Đông Dương 3", do đó nên có sự ghi nhớ, kỷ niệm về nó không nhiều thì ít. Nếu chưa tiện trên các báo chí chính thống thì vẫn nên tuyên truyền rộng rãi trên blog, diễn đàn, để làm rõ chiến công của quân dân ta. Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ, chia sẻ một số cảm nghĩ, nhận xét, thông tin về đề tài này và mấy vấn đề liên quan.
Nên xác định đúng ngày kỷ niệm chiến thắng biên giới phía Bắc 1979
Bắt đầu từ ngày 17/2/2013, cùng với sự kiện Trung Quốc kéo quân sang xâm lược Việt Nam vào ngày này 34 năm trước, BBC Việt ngữ và nhiều blogs đăng nhiều bài về cuộc chiến này. Nhiều người còn gọi đó là để "kỷ niệm" cuộc chiến tranh này. Lúc đầu tôi cũng không nghĩ nhiều, thấy ừ thì cũng đúng, định hòa theo những người đó viết bài "kỷ niệm ngày 17/2". Nhưng giật mình nghĩ lại thì thấy có vấn đề rất lớn, chúng ta đã nhầm lẫn ngay từ đầu.
Từ mấy ngàn năm trước đến ngày nay, ở nước Việt cũng như các nơi khác trên thế giới, người ta thường chỉ kỷ niệm những sự kiện tích cực, những sự kiện đem đến niềm vui. Về chiến sử thì đó là những chiến công, những gương chiến thắng. Không ai đi kỷ niệm ngày người ta đánh mình cả.
Cha ông, cha anh chúng ta không đi kỷ niệm ngày giặc Nguyên, giặc Thanh vào đánh ta. Dân ta không kỷ niệm ngày quân Pháp - Tây Ban Nha (1858) và Mỹ (1965) đổ bộ vào cảng Đà Nẵng. Dân ta kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên, Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng mùa xuân 1975. Tức là những chiến công hoặc những sự kiện quan trọng mang tính bước ngoặt dẫn đến chiến thắng và thằng giặc phải cút khỏi nước ta. Không ai đi "kỷ niệm" ngày thằng giặc đánh mình cả.
Ngoài trường hợp những sự kiện quân sự diễn ra trong 1 ngày (ví dụ Trân Châu Cảng, hải chiến Trường Sa (chiến dịch CQ-88)), ngày đánh lui, đánh thắng địch cũng là ngày địch đánh ta, thì không ai ở Việt Nam và trên thế giới này kỷ niệm ngày địch đánh ta, mà họ chọn ngày đánh lui địch để làm ngày kỷ niệm. Các cụ ta không kỷ niệm ngày quân Pháp đổ bộ nổ súng đánh Đà Nẵng, thay vào đó là kỷ niệm ngày giành được độc lập, ngày thắng giặc, ngày đánh đuổi quân giặc về nước, ngày mở đường cho quân Pháp, quân Mỹ về nước, ngày giải phóng. Cũng như người Mỹ không kỷ niệm ngày thực dân Anh đưa quân vào đánh. Họ kỷ niệm ngày đánh đuổi quân Anh và lấy đó làm lễ Độc Lập (Independence day). Kể cả các lễ hội dân gian cũng không ai đi kỷ niệm những ngày như vậy.
Tôi nghĩ hiện tượng đó là hợp tình hợp lý, bởi vì nếu kỷ niệm ngày giặc đánh mình thì nó nói lên điều gì, nó gởi lên thông điệp gì, nó gởi thông điệp gì cho giới trẻ và con cháu đời sau? Nó có nghĩa là ta lấy thằng giặc làm trung tâm và nhân vật chính. Ta kỷ niệm ngày thằng giặc đánh ta. Ta kỷ niệm một hành động của giặc, kỷ niệm hành động đánh ta của giặc. Thay vì kỷ niệm ngày vui chiến thắng của ta. Kỷ niệm hành động của ta, kỷ niệm hành động đuổi giặc của ta. Kỷ niệm sự thắng lợi của ta. Lấy ta làm trung tâm và nhân vật chính.
Như vậy, theo tình lý trên, theo truyền thống cha ông, thì ngày cần kỷ niệm là ngày chiến thắng biên giới phía Bắc, chính là ngày 18/3, là ngày mà đoàn quân xâm lược sứt mẻ của Trung Quốc hoàn thành việc rút đại quân ra khỏi Việt Nam, để lại hàng vạn xác đồng đội xâm lăng. Chứ tuyệt đối không phải là ngày 17/2. Đó là tư tưởng của nạn nhân đưa đầu chịu đánh, chứ không phải là tư tưởng của một dân tộc quật cường chống xâm lược và quyết chiến quyết thắng bọn giặc xâm lược. Chúng ta nên kỷ niệm ngày ta đuổi giặc, ngày ta thắng giặc. Không nên kỷ niệm ngày giặc đánh ta, ngày ta bị đánh, ngày ta bị giặc đánh.
Tôi không rõ đây là tư tưởng thuộc địa hay "văn hóa buồn bã", tinh thần tiêu cực, hay "ai đó" cố ý kích thích lòng căm thù nước Trung Quốc và tinh thần bài Hoa (nếu nhớ không lầm thì chính BBC Việt ngữ là kênh đầu tiên khởi sự đăng bài dồn dập về ngày 17/2 hàng năm), nhưng nói chung đây là một tư duy không đúng và mâu thuẫn với chủ đạo dân tộc Việt Nam, đi ngược với những truyền thống mà cha ông, cha anh ta hay làm.
Bên Trung Quốc, nhiều người kỷ niệm ngày 17/2 là ngày TQ đem quân tấn công Việt Nam, chứ họ không kỷ niệm ngày 18/3 là ngày họ lết về nước với những người lính thân tàn ma dại, mình đầy băng bó, bỏ lại hàng vạn xác đồng đội phơi la liệt khắp 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Phải chăng BBC Việt ngữ đã rập khuôn quan điểm chính thống của Trung Quốc về kết quả cuộc chiến? Người Hán chưa bao giờ thừa nhận thất bại trong tất cả các cuộc chiến nào của lịch sử Trung Quốc. Cuộc chiến này cũng không ngoại lệ. Phải chăng mục đích của BBC Việt ngữ là biến một sự kiện kỷ niệm chiến thắng tích cực thành một sự kiện tưởng niệm chiến bại buồn bã tiêu cực? Hay biến thành một ngày "quốc hận" nào đó?
Nếu muốn kỷ niệm, ca ngợi, biết ơn chiến công đánh bại giặc Tàu xâm lược, để làm gương chiến đấu cho con cháu, để cho con cháu ngày sau tiếp tục noi theo đánh giặc bảo vệ làng xóm đất nước quê hương thì cần kỷ niệm ngày thắng giặc, ngày mà chúng nó cút về nước, chứ tuyệt đối không phải là ngày mà chúng nó đánh ta. Đó là ngày của nạn nhân bị ăn đòn, không phải là ngày chiến thắng, ngày đánh bại kẻ thù. Ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979 phải là ngày 18 tháng 3. Chúng ta nên làm theo phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của ông cha, không nên làm theo BBC Việt ngữ.
Chiến tranh năm 1979 giống cuộc chiến chống ngoại xâm nào trong Việt sử?
Theo kiến thức cơ bản nhất về lịch sử nước mình, tôi nghĩ cuộc chiến năm 1979, nhất là kết cục của nó, có nét giống với cuộc chiến Lê Đại Hành đánh Tống trong thời Tiền Lê, Lý Thường Kiệt đánh Tống trong thời nhà Lý, Trần Hưng Đạo đánh Nguyên Mông trong thời nhà Trần, và 2 cuộc kháng chiến quy mô lớn gần đây nhất; chống Pháp và Mỹ.
Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt đều phải đánh Chiêm Thành trước để rảnh tay kháng Tống, tránh không để rơi vào bẫy gọng kìm "lưỡng đầu thọ địch" (hai đầu gặp địch). Tướng Lê Khả Phiêu, Lê Trọng Tấn và quân đội CHXHCN Việt Nam phải đánh Khmer Đỏ trước để ổn định mặt trận phía Nam. Nhưng khác xưa là chưa bình định hết thì quân phương Bắc đã kéo tới cửa.
Quân nhà Lê và quân nhà Lý đều cầm chân địch tại phòng tuyến Bình Lỗ và Như Nguyệt. Trường hợp chiến tranh Lê - Tống là giặc tự tháo lui sau khi thấy không chọc thủng nổi phòng tuyến Bình Lỗ. Trường hợp chiến tranh Lý - Tống là quân nhà Lý sau khi gây thiệt hại, thương vong nặng nề cho địch thì đã chủ động nghị hòa trước. Rồi tướng giặc mới rút quân về sau khi thấy đánh mãi mà vẫn không xuyên qua nổi phòng tuyến Như Nguyệt, trong khi ngày càng hao binh tổn tướng.
Trong chiến tranh Đại Việt - Nguyên Mông, ta cũng gây cho chúng những thiệt hại to lớn bằng du kích chiến và chiến tranh nhân dân, quấy rối, phá hoại, đánh tiêu hao, giết dần giết mòn sinh lực địch, đến khi địch không chịu nổi nữa phải rút quân, thì triển khai phục kích tiêu diệt. Thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo đã thành công ém quân phục kích ở cả hai đường thủy - bộ, đánh tan giặc trong lúc chúng đang rút về.
Năm 1979, ta đặt phục binh ở ngả Chi Mã. Nhưng sau đó do sự phối hợp thiếu ăn ý nhịp nhàng giữa sư đoàn 337 và 338, cũng như sự rút kinh nghiệm các chế độ trước của CHND Trung Hoa nên họ đã đề phòng và không lạc sâu vào trận địa mai phục. Do đó hai cánh quân 337 và 338 tuy có gây tổn thương lớn cho giặc, nhưng mưu kế phục kích đã không đem lại kết quả thắng lớn như mong đợi. Như vậy, trong kháng chiến chống Nguyên Mông thì quân ta phục kích trúng. Trong chiến tranh biên giới chống CHND Trung Hoa thì quân ta phục kích hụt. Thế nên cuộc chiến chống Nguyên Mông mới có trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng Giang lưu danh muôn thuở. Còn cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979 không có trận đại thắng quyết chiến chiến lược nào tương tự.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giặc đều phải rút quân về nước. Chỉ khác nhau ở chỗ Pháp và Mỹ ký hiệp định rồi mới rút quân. Trung Quốc năm 1979 thì phải đơn phương rút quân do bị thương vong quá nhiều và không thể tiến thêm bước nào, không thể chọc thủng phòng tuyến của Việt Nam.
Thần uy và lòng nhân ái bao la của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trước cuộc xâm lấn của quân đội phương Bắc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Trong không khí cả nước ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã noi gương chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đứng lên đánh đuổi quân bành trướng Bắc Kinh. Bài viết có tựa đề rất giản dị và minh bạch: NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI, GIẶC TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI.
Bài kêu gọi này như những bài hịch truyền, lời hiệu triệu của Bác Hồ năm xưa kêu gọi toàn quốc đứng lên đánh Pháp đuổi Mỹ, giành lại độc lập chủ quyền.
"Bài hịch truyền" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu bằng đoạn:
Một số giai thoại "thâm cung bí sử" cho biết lúc đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp và TBT Lê Duẩn đang có nhiều bất đồng chính kiến, có nhiều khác biệt và mâu thuẫn không nhỏ. Song khi giặc đến nhà thì gạt sang hết qua một bên.
Đọc tới đoạn cuối bài viết đó tôi liên tưởng ngay tới giai thoại thời Trần, khi lúc đó Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải đang có mâu thuẫn lớn, hai người bằng mặt không bằng lòng. Nhưng đến khi giặc Nguyên Mông đến cửa thì lập tức gạt hết mọi ân oán sang bên. Đức Thánh Trần đã mời Trần Quang Khải đến tắm chung để giảng hòa.
Xưa và nay, dù trong nội bộ chính trị có bất hòa gì đi nữa thì khi có giặc đều lập tức thuận hòa, gạt bỏ việc riêng, gác lại mọi vấn đề cá nhân, hiềm khích, để bắt tay nhau chống ngoại địch, bảo vệ sơn hà.
Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc
Sự "nói 1 đàng làm 1 nẻo" và tiền hậu bất nhất, thiếu nhất quán trong các tuyên bố và hành động của Đặng Tiểu Bình và chính phủ Trung Quốc khi đó đã cho thấy họ không chỉ có một mục tiêu duy nhất, mà họ có những mục tiêu không giống nhau, có mục tiêu ưu tiên, có mục tiêu dự phòng. Những mục tiêu thật sự của Trung Quốc trong cuộc chiến này có lẽ phải chờ rất lâu để có thể được giải mật. Còn hiện tại căn cứ trên nhiều tài liệu Việt Nam và nước ngoài, qua phân tích, theo nhận xét riêng thì tựu trung mục tiêu của Trung Quốc là như sau:
Thượng sách - Xâm chiếm thủ đô Hà Nội và miền Bắc Việt Nam. Biến miền Bắc VN thành một thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam. Vì mục tiêu cao nhất này nên quân Tàu đã tìm đủ cách để kéo tới Hà Nội nhưng bất lực bởi không vượt qua được các hàng phòng thủ của VN và thủ đô Hà Nội được bảo vệ bởi Quân đoàn 1. Trước đó Quân đoàn 1 đã xây dựng một phòng tuyến, bao gồm nhiều hàng rào phòng ngự dày đặc đóng quanh bảo vệ thủ đô Hà Nội, ngăn giặc tiến sâu vào vùng trung châu. Phòng tuyến này kiên cố hơn phòng tuyến Như Nguyệt của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.
Trước cuộc Nam xâm, tướng Dương Đắc Chí, một trong hai tướng chỉ huy của Tàu, đã ngạo mạn nói với thuộc cấp và binh lính đại ý: Chúng ta sẽ ăn Phở Việt Nam ở Hà Nội! Và nếu thích thì chúng ta cũng thừa khả năng tiến thẳng đến Hà Nội buổi sáng, đến Huế buổi trưa, và Thành phố Hồ Chí Minh buổi chiều.
Để chuẩn bị cho kế hoạch đó, Trung Quốc đã thủ sẵn quân bài Hoàng Văn Hoan và đồng bọn, đến lúc chín muồi sẽ đưa Hoan lên làm "thủ lĩnh anh minh" và thiết lập ngụy quyền, bắt lính, từng bước xây dựng ngụy quân. Thành lập "quốc gia", sau đó thỏa thuận cho các đồng minh, đàn em công nhận và thiết lập ngoại giao với "quốc gia" đó.
Nói chung, đây là mục tiêu nằm trong phần kế hoạch bành trướng xuống Nam của chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc, là một phần trong âm mưu Nam xâm, cướp nước, lấy miền Bắc VN làm bàn đạp để từng bước thôn tính khu vực Đông Dương và Đông Nam Á, hay ít nhất là khống chế khu vực này để cướp tài nguyên và trục lợi. Nối tiếp chuỗi dài "truyền thống" chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa Đại Hán của phong kiến Trung Hoa.
Mục tiêu này ngay từ những ngày đầu chiến cuộc đã tỏ ra khó khả thi. Sau này thực tiễn chiến trường cũng cho thấy Trung Quốc ngay cả một tia hy vọng nhỏ đến được thủ đô Hà Nội cũng không có. Mục tiêu này do đó đã phá sản ngay từ thời gian đầu.
Trung sách - Xâm lấn đất đai lãnh thổ. Lấn chiếm vùng biên giới Việt - Hoa, đặc biệt là các thị xã then chốt bao gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam. Trước là lấn đất - giành dân, tranh thủ chiếm lợi về đất đai và tài nguyên. Sau là tạo tiền đề thuận lợi cho việc xâm lược lâu dài.
Kế này nhằm làm tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự của Việt Nam, xóa sổ các đồn biên phòng và một phần lực lượng vũ trang địa phương và các đơn vị vũ trang khác của Việt Nam.
Hạ sách - Cướp bóc, phá hoại, hủy diệt! Gây tổn thương nguyên khí và sinh lực Việt Nam, gây sốc cho tinh thần Việt Nam. Gây sức ép, áp lực Việt Nam phải bỏ dở kế hoạch tiêu diệt Pol Pot và Khmer Đỏ, tái thiết nước bạn Campuchia. Ép Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại với Trung Quốc, Liên Xô, Khmer Đỏ và chính sách đối nội với các tầng lớp tư sản mại bản Hoa kiều. Hủy hoại cơ sở hạ tầng và nền kinh tế để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ kiệt quệ rồi sụp đổ. Tạo tiền đề đưa chế độ tới chỗ suy vong, sụp đổ, tìm cơ hội đưa tay sai bù nhìn Hoàng Văn Hoan lên làm "thủ lĩnh anh minh".
Tất cả các thông tin về cuộc chiến này đều cho thấy: Cuối cùng Trung Quốc không đạt được điều nào trong 3 "sách" trên, trái lại bị thương vong quá nhiều phải chạy dài về nước. Họ không đến được Hà Nội, không có cơ hội nào đưa Hoàng Văn Hoan lên làm "An Nam quốc vương". Họ không thiết lập được một bàn đạp nào để xâm lược lâu dài, vài chục km đất địch cố giữ đều bị ta lần lượt giành lại trong các trận chiến sau này. Họ không tiêu diệt được sư đoàn nào hay lực lượng lớn nào của VN. Họ không buộc nổi VN từ bỏ nghĩa vụ ở Campuchia. Họ không ép buộc nổi VN thay đổi 1 chính sách nhỏ nào.
Những ngọn lửa hòa bình giữa Bắc Kinh
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc chưa đủ bề dày thời gian như cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1 tháng so với 21 năm), do đó nó chưa tích tụ đủ sự phẫn nộ để hình thành một cuộc chiến như cuộc chiến trong lòng nước Mỹ.
Nhưng từ khi thế lực cuồng chiến Trung Nam Hải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược vào quốc gia mà trước đó họ còn gọi là "huynh đệ", "đồng chí", "đồng minh", tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đã tự vạch mặt là kẻ thù nguy hiểm của Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á, là đối lập với các giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và của hòa bình, ổn định trong khu vực. Đồng thời họ bỗng dưng trở nên lạ lẫm, khác thường đối với chính nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là các bộ phận quý trọng hòa bình, tôn trọng công lý trong nhân dân Trung Hoa.
Người dân Trung Quốc sẽ nghĩ gì, tin gì, khi chỉ 10 năm trước đó (1969), thống soái Mao Trạch Đông của họ đã gởi 2 câu đối miêu tả chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất
Minh tinh quang nhật nguyệt, Á Âu hào kiệt thị vô song"
("Chí khí trải núi sông, anh hùng xưa nay chỉ có một
Sao sáng chiếu mặt trời và mặt trăng, hào kiệt Á - Âu không có hai")
Rồi bây giờ Đặng Tiểu Bình lại làm chuyện này? Người dân TQ sẽ nghĩ gì, tin gì, khi trong thời chống Pháp, Mao Trạch Đông gởi đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống thực dân Pháp đã dặn đoàn: "Tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ cho cha ông." Trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên sau khi Việt Nam thắng Pháp, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà Trưng.
Vậy mà, bỗng dưng đùng một cái, Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc trở mặt nhanh chưa từng thấy. Báo chí nhà nước Trung Quốc và cả Đặng Tiểu Bình đùng đùng chửi bới Việt Nam. Chưa ai kịp định thần để hiểu đầu cua tai nheo gì thì họ đã đưa quân tổng tấn công Việt Nam. Một sự phản phé, trở mặt nhanh không thể nào ngờ. Trong lịch sử đối ngoại, ngoại giao thế giới, có lẽ chưa có chính phủ nào tráo trở, bội phản nhanh chớp nhoáng đến mức độ đó. Hoàn toàn trở mặt, quay ngược 180 độ, từ minh hữu thành cừu địch chỉ trong tích tắc.
Sự thay đổi quá nhanh và quá bất ngờ, không cho thời gian để dân chúng chuẩn bị tâm lý đó đã tạo ra phản ứng trái chiều. Và cũng ngay từ lúc tập đoàn bành trướng bá quyền trong giới cầm quyền Trung Nam Hải vừa mới phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì ngay ở thủ đô Bắc Kinh đã dấy lên một cao trào phản chiến mạnh mẽ. Do cuộc chiến ngắn nên phong trào phản chiến của nhân dân Trung Quốc chưa đủ thời gian để chín muồi và phát triển lớn mạnh, sâu rộng như phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ trước đây, nhưng nó cũng đủ làm cho bọn cuồng chiến bá quyền ở Bắc Kinh và Đặng Tiểu Bình phải chột dạ.
Thời đó, một loạt những tên ký dưới các truyền đơn và báo tường được người dân Bắc Kinh dán dày đặc trên khắp đường phố, người ta cũng đủ thấy trong lòng của thủ đô Trung Quốc đang tiềm ẩn mầm mống chống chiến tranh không hề nhỏ. Nguy cơ nổ ra biểu tình, bạo loạn, bất ổn đường phố, là có.
Nhiều tổ chức, hội kín hoạt động như: Đồng minh công nhân trẻ đấu tranh cho dân chủ và phồn vinh, Phản đế Liên hiệp hội, Giác Ngộ hội, Ủy ban hoạt động cho công lý, Liên minh nhân dân đấu tranh cho chân lý…. họ đều lên tiếng phản đối chiến tranh, và một loạt tập san phát hành bí mật như: Giác ngộ, Đấu tranh, Thức tỉnh, Chân lý, Diễn đàn nhân dân…. được lưu hành ở nhiều nơi, liên tục vạch mặt chính sách diều hâu cuồng chiến của Trung Nam Hải.
Có nhiều tờ truyền đơn đã lên án bọn cuồng chiến ở Trung Quốc bằng những lời lẽ đanh thép. Tờ truyền đơn của tổ chức Công nhân trẻ Đồng minh dán trên tường đã nghiêm khắc lên án:
Tờ truyền đơn của Phản đế Liên Hiệp hội kêu gọi:
Nhân dân Trung Quốc không phải là xấu, nhiều bộ phận dân Trung Quốc quả thật có thiện cảm, có cảm tình, và gắn bó mật thiết với Việt Nam, thật sự xem Việt Nam là bằng hữu, thậm chí còn là thân hữu, huynh đệ. Năm 1977, nhà máy dệt Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, sau một hồi chạy thử vẫn không hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp cho VN bí quyết. Sau đó sự việc bị lộ, bọn phản động bá quyền đã tra tấn người kỹ sư đó tới chết. Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ tráo trở điều về nước, một số đồng chí đã để lại nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho Việt Nam.
Do đó xưa nay Việt Nam luôn xác định chống bọn phản động bành trướng bá quyền Bắc Kinh chứ không chống toàn Trung Quốc hay nhân dân Trung Quốc. Chống thực dân Pháp chứ không chống cả nước Pháp hay nhân dân Pháp. Chống phát xít Nhật chứ không chống cả nước Nhật hay nhân dân Nhật. Chống đế quốc Mỹ (chủ nghĩa đế quốc của Mỹ) chứ không chống cả nước Mỹ hay nhân dân Mỹ. Những thành phần chống Việt, hiếu chiến, cực đoan, lái buôn chiến tranh, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, quá khích, diều hâu, có những chủ trương đường lối, quan điểm, lợi ích trái ngược với nguyên tắc độc lập tự do và lợi ích của ta thì những kẻ đó mới chính là đối tượng đấu tranh. Còn nhân dân là vô tội, vô can. Như Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn xác định lâu nay: Việt Nam mong muốn làm bạn, làm đối tác tốt của tất cả các dân tộc, nhân dân trên thế giới. Hiến pháp và luật pháp Việt Nam cũng không cho phép sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc.
Không được đụng tới Việt Nam!
Trong thời đại Hồ Chí Minh, quân đội của Việt Nam được xem là một trong những quân đội tinh nhuệ, thiện chiến hàng đầu thế giới, với tư cách là một quân đội đã chiến thắng đoàn quân vô địch Hoa Kỳ. Hình ảnh của quân đội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh luôn là một đội quân chân trần - chí thép, đối với dân luôn khoan hòa, lễ phép, còn đối với giặc thì "đạp lên đầu thù, dẫm lên cờ địch" mà từng bước đi qua xác quân giặc. Câu "Đường vinh quang xây xác quân thù" trong quốc ca Việt Nam đã nói lên phần nào ý nghĩa đó.
Một quân đội mà dù dính bao nhiêu vết thương trên mình thì vẫn đánh đâu thắng đó, dù thua trận chiến nhưng vẫn sẽ thắng cuộc chiến. Người đầy thương tích, vũ khí lạc hậu cũ kỹ thô sơ nhưng đánh thắng hết giặc này đến giặc khác. Bọn giặc nào phải kẻ tầm thường, họ là 3 trong 5 siêu cường thuộc Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc (Pháp, Mỹ, CHND Trung Hoa). Trong quân sử Việt Nam và thế giới thật khó kiếm một lực lượng quân đội nào anh hùng hơn, chưa thấy một quân đội nào đánh bại nhiều giặc hơn, đánh bại những loại giặc mạnh hơn.
Một quân đội anh hùng như vậy, với một tư cách như vậy, với một "thương hiệu" như vậy thì sẽ làm gì khi có quân giặc dám xâm lược Việt Nam? Những tên giặc ở quá xa như Pháp, Mỹ thì Việt Nam không thể phản công trả đũa vào nhà họ để tiêu diệt hậu cần và nguồn gốc xâm lược. Việt Nam chỉ có thể giáng cho họ những tổn thất, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.
Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn” và “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”. Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự tử bằng những cách thức ghê rợn.
Khi Khmer Đỏ, đàn em được Trung Quốc chống lưng và chỉ đạo, xâm lược biên giới Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phản công trả đũa vào tận thủ đô của địch và bứng đi nguồn gốc tội ác, mầm mống xâm lược.
Cuối tháng 2 năm 1979, QĐNDVN đã tiếp nối chiến công Bắc phạt của Lý Thường Kiệt và những tấm gương phản công trả đũa và tiêu diệt những căn cứ nội địa mà giặc xâm lược dùng để tấn công nước ta trong cuộc tổng phản công biên giới Tây Nam chống Pol Pot. Quân ta đã đồng loạt phản công mạnh mẽ vào đất Tàu.
Trước khi quân đội Trung Quốc tấn công Việt Nam thì huyện Ninh Minh (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN), huyện Ma Lật Pha (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Hà Giang của VN), huyện Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Lào Cai của VN), huyện Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Quảng Ninh của VN), thị xã Bằng Tường (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN) được địch dùng làm căn cứ hậu cần, dự trữ lương thực, nhưng trong những ngày cuối tháng 2 năm ấy những căn cứ hậu cần, những kho chứa lương thực của Trung Quốc đã bị Quân đội Nhân dân Việt Nam phản đòn tràn sang đánh thẳng vào các nơi ấy và phá hủy san bằng.
Đặc biệt huyện Ninh Minh (宁明县) và huyện Ma Lật Pha (Malipo - 麻栗坡县) là 2 nơi bị quân ta phản kích vào dữ dội nhất. Thông tin này còn được ghi nhận trong tài liệu "China's War With Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications" (Hoover Press xuất bản năm 1987) của giáo sư chính trị học Mỹ King C. Chen, chuyên môn về chính trị châu Á.
Đó chỉ là lần thứ hai trong chiến sử Việt Nam mà một quân đội người Việt đánh vào lãnh thổ chính thức của Trung Quốc. Lần thứ nhất là cuộc "tấn công để phòng thủ" của Lý Thường Kiệt. Danh tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản tấn công trước vào đất Tống là để tiêu diệt kho hậu cần, lương thảo mà giặc Tống chuẩn bị để tiến đánh Đại Việt.
Quân đội Nhân dân Việt Nam trả đòn, phản công vào lãnh thổ Trung Quốc cũng với mục tiêu đó, đồng thời còn là để trả đũa và răn đe. Sự phản công vào Ninh Minh, Ma Lật Pha, Hà Khẩu, Đông Hưng, Bằng Tường của quân đội Việt Nam cuối tháng 2 đã góp phần không nhỏ vào quyết định lui quân toàn bộ của Trung Quốc vào ngày 5/3/1979. Mở đường cho một loạt tập kích 13 ngày đêm, đẩy lui hơn 50 vạn đại quân Trung Quốc về nước vào ngày 18/3/1979.
Thiếu Long
Để đọc chi tiết cụ thể hơn về cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, xin mời đọc tại đây:
- Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ
Đất nước Việt Nam lúc bấy giờ đang là một đất nước mang đầy thương tích chiến tranh, chịu nhiều hậu quả chiến tranh tàn khốc, chịu đựng gần 9 triệu tấn bom và chất độc hóa học, nhiều gần gấp 3 lần tổng số bom cả thế giới rải vào nhau trong 2 cuộc Thế chiến. Việt Nam vừa trải qua thời kỳ chiến tranh dài nhất trong Việt sử và một trong các thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế giới.
Quân đội Nhân dân Việt Nam lúc đó đang là một quân đội mang đầy vết thương chiến tranh chưa lành, đang vướng chân và chịu gánh nặng Campuchia, phải bổ sung nhiều lính mới cho chiến trường ở cả hai đầu đất nước, phía Nam và phía Bắc.
Song quân ta, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, TBT Lê Duẩn, và sự tham mưu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã đánh bại và đẩy lùi hơn 50 vạn quân Trung Quốc xâm lược, gây cho chúng những tổn thất vô cùng lớn lao. Kết quả là chúng phải đơn phương lui binh về nước sau những thiệt hại nặng nề. Nhục nhã chuồn nhanh trước khi quân chủ lực Việt Nam ra Bắc.
Sau 1 tháng thử lửa, Bắc Kinh thừa biết rằng nếu ngay cả những tân binh địa phương, bạch đầu quân, nữ du kích, dân quân, tự vệ mà họ còn không vượt qua nổi, thì chắc chắn họ không có cơ hội nào cầm cự nổi với lực lượng đại quân, tinh binh, các lực lượng chủ lực, thiện chiến, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chiến công của Việt Nam, những sư đoàn vừa mới giao chiến và đánh bại đạo quân vô địch Hoa Kỳ cách đây không lâu.
Đó là lý do Trung Quốc phải bắt đầu rút quân từ ngày 5 tháng 3. Việt Nam nói rằng sẽ thả cho Trung Quốc rút về, nhưng sau đó bất ngờ đón đánh, truy kích, phục kích nhiều nơi để răn đe, trả đũa. Do đó mà chiến sự tiếp diễn nhiều nơi. Và phải đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 thì Trung Quốc mới hoàn thành việc rút quân sau 13 ngày lui binh "trầy da tróc vẩy".
![]() |
| Giáo dục về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 trong sách giáo khoa lớp 12 của Việt Nam. |
Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh luôn tạo ra niềm cảm hứng viết bài trong tôi, đặc biệt là cuộc chiến này. Đây là một sự kiện lịch sử lớn, là một cuộc chiến tranh lớn, đến nỗi có học giả nước ngoài còn gọi đây là "Chiến tranh Đông Dương 3", do đó nên có sự ghi nhớ, kỷ niệm về nó không nhiều thì ít. Nếu chưa tiện trên các báo chí chính thống thì vẫn nên tuyên truyền rộng rãi trên blog, diễn đàn, để làm rõ chiến công của quân dân ta. Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ, chia sẻ một số cảm nghĩ, nhận xét, thông tin về đề tài này và mấy vấn đề liên quan.
Nên xác định đúng ngày kỷ niệm chiến thắng biên giới phía Bắc 1979
Bắt đầu từ ngày 17/2/2013, cùng với sự kiện Trung Quốc kéo quân sang xâm lược Việt Nam vào ngày này 34 năm trước, BBC Việt ngữ và nhiều blogs đăng nhiều bài về cuộc chiến này. Nhiều người còn gọi đó là để "kỷ niệm" cuộc chiến tranh này. Lúc đầu tôi cũng không nghĩ nhiều, thấy ừ thì cũng đúng, định hòa theo những người đó viết bài "kỷ niệm ngày 17/2". Nhưng giật mình nghĩ lại thì thấy có vấn đề rất lớn, chúng ta đã nhầm lẫn ngay từ đầu.
Từ mấy ngàn năm trước đến ngày nay, ở nước Việt cũng như các nơi khác trên thế giới, người ta thường chỉ kỷ niệm những sự kiện tích cực, những sự kiện đem đến niềm vui. Về chiến sử thì đó là những chiến công, những gương chiến thắng. Không ai đi kỷ niệm ngày người ta đánh mình cả.
Cha ông, cha anh chúng ta không đi kỷ niệm ngày giặc Nguyên, giặc Thanh vào đánh ta. Dân ta không kỷ niệm ngày quân Pháp - Tây Ban Nha (1858) và Mỹ (1965) đổ bộ vào cảng Đà Nẵng. Dân ta kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên, Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng mùa xuân 1975. Tức là những chiến công hoặc những sự kiện quan trọng mang tính bước ngoặt dẫn đến chiến thắng và thằng giặc phải cút khỏi nước ta. Không ai đi "kỷ niệm" ngày thằng giặc đánh mình cả.
Ngoài trường hợp những sự kiện quân sự diễn ra trong 1 ngày (ví dụ Trân Châu Cảng, hải chiến Trường Sa (chiến dịch CQ-88)), ngày đánh lui, đánh thắng địch cũng là ngày địch đánh ta, thì không ai ở Việt Nam và trên thế giới này kỷ niệm ngày địch đánh ta, mà họ chọn ngày đánh lui địch để làm ngày kỷ niệm. Các cụ ta không kỷ niệm ngày quân Pháp đổ bộ nổ súng đánh Đà Nẵng, thay vào đó là kỷ niệm ngày giành được độc lập, ngày thắng giặc, ngày đánh đuổi quân giặc về nước, ngày mở đường cho quân Pháp, quân Mỹ về nước, ngày giải phóng. Cũng như người Mỹ không kỷ niệm ngày thực dân Anh đưa quân vào đánh. Họ kỷ niệm ngày đánh đuổi quân Anh và lấy đó làm lễ Độc Lập (Independence day). Kể cả các lễ hội dân gian cũng không ai đi kỷ niệm những ngày như vậy.
Tôi nghĩ hiện tượng đó là hợp tình hợp lý, bởi vì nếu kỷ niệm ngày giặc đánh mình thì nó nói lên điều gì, nó gởi lên thông điệp gì, nó gởi thông điệp gì cho giới trẻ và con cháu đời sau? Nó có nghĩa là ta lấy thằng giặc làm trung tâm và nhân vật chính. Ta kỷ niệm ngày thằng giặc đánh ta. Ta kỷ niệm một hành động của giặc, kỷ niệm hành động đánh ta của giặc. Thay vì kỷ niệm ngày vui chiến thắng của ta. Kỷ niệm hành động của ta, kỷ niệm hành động đuổi giặc của ta. Kỷ niệm sự thắng lợi của ta. Lấy ta làm trung tâm và nhân vật chính.
Như vậy, theo tình lý trên, theo truyền thống cha ông, thì ngày cần kỷ niệm là ngày chiến thắng biên giới phía Bắc, chính là ngày 18/3, là ngày mà đoàn quân xâm lược sứt mẻ của Trung Quốc hoàn thành việc rút đại quân ra khỏi Việt Nam, để lại hàng vạn xác đồng đội xâm lăng. Chứ tuyệt đối không phải là ngày 17/2. Đó là tư tưởng của nạn nhân đưa đầu chịu đánh, chứ không phải là tư tưởng của một dân tộc quật cường chống xâm lược và quyết chiến quyết thắng bọn giặc xâm lược. Chúng ta nên kỷ niệm ngày ta đuổi giặc, ngày ta thắng giặc. Không nên kỷ niệm ngày giặc đánh ta, ngày ta bị đánh, ngày ta bị giặc đánh.
![]() |
| Truyện tranh chống bành trướng |
Tôi không rõ đây là tư tưởng thuộc địa hay "văn hóa buồn bã", tinh thần tiêu cực, hay "ai đó" cố ý kích thích lòng căm thù nước Trung Quốc và tinh thần bài Hoa (nếu nhớ không lầm thì chính BBC Việt ngữ là kênh đầu tiên khởi sự đăng bài dồn dập về ngày 17/2 hàng năm), nhưng nói chung đây là một tư duy không đúng và mâu thuẫn với chủ đạo dân tộc Việt Nam, đi ngược với những truyền thống mà cha ông, cha anh ta hay làm.
Bên Trung Quốc, nhiều người kỷ niệm ngày 17/2 là ngày TQ đem quân tấn công Việt Nam, chứ họ không kỷ niệm ngày 18/3 là ngày họ lết về nước với những người lính thân tàn ma dại, mình đầy băng bó, bỏ lại hàng vạn xác đồng đội phơi la liệt khắp 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Phải chăng BBC Việt ngữ đã rập khuôn quan điểm chính thống của Trung Quốc về kết quả cuộc chiến? Người Hán chưa bao giờ thừa nhận thất bại trong tất cả các cuộc chiến nào của lịch sử Trung Quốc. Cuộc chiến này cũng không ngoại lệ. Phải chăng mục đích của BBC Việt ngữ là biến một sự kiện kỷ niệm chiến thắng tích cực thành một sự kiện tưởng niệm chiến bại buồn bã tiêu cực? Hay biến thành một ngày "quốc hận" nào đó?
Nếu muốn kỷ niệm, ca ngợi, biết ơn chiến công đánh bại giặc Tàu xâm lược, để làm gương chiến đấu cho con cháu, để cho con cháu ngày sau tiếp tục noi theo đánh giặc bảo vệ làng xóm đất nước quê hương thì cần kỷ niệm ngày thắng giặc, ngày mà chúng nó cút về nước, chứ tuyệt đối không phải là ngày mà chúng nó đánh ta. Đó là ngày của nạn nhân bị ăn đòn, không phải là ngày chiến thắng, ngày đánh bại kẻ thù. Ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979 phải là ngày 18 tháng 3. Chúng ta nên làm theo phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của ông cha, không nên làm theo BBC Việt ngữ.
Chiến tranh năm 1979 giống cuộc chiến chống ngoại xâm nào trong Việt sử?
Theo kiến thức cơ bản nhất về lịch sử nước mình, tôi nghĩ cuộc chiến năm 1979, nhất là kết cục của nó, có nét giống với cuộc chiến Lê Đại Hành đánh Tống trong thời Tiền Lê, Lý Thường Kiệt đánh Tống trong thời nhà Lý, Trần Hưng Đạo đánh Nguyên Mông trong thời nhà Trần, và 2 cuộc kháng chiến quy mô lớn gần đây nhất; chống Pháp và Mỹ.
Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt đều phải đánh Chiêm Thành trước để rảnh tay kháng Tống, tránh không để rơi vào bẫy gọng kìm "lưỡng đầu thọ địch" (hai đầu gặp địch). Tướng Lê Khả Phiêu, Lê Trọng Tấn và quân đội CHXHCN Việt Nam phải đánh Khmer Đỏ trước để ổn định mặt trận phía Nam. Nhưng khác xưa là chưa bình định hết thì quân phương Bắc đã kéo tới cửa.
Quân nhà Lê và quân nhà Lý đều cầm chân địch tại phòng tuyến Bình Lỗ và Như Nguyệt. Trường hợp chiến tranh Lê - Tống là giặc tự tháo lui sau khi thấy không chọc thủng nổi phòng tuyến Bình Lỗ. Trường hợp chiến tranh Lý - Tống là quân nhà Lý sau khi gây thiệt hại, thương vong nặng nề cho địch thì đã chủ động nghị hòa trước. Rồi tướng giặc mới rút quân về sau khi thấy đánh mãi mà vẫn không xuyên qua nổi phòng tuyến Như Nguyệt, trong khi ngày càng hao binh tổn tướng.
Trong chiến tranh Đại Việt - Nguyên Mông, ta cũng gây cho chúng những thiệt hại to lớn bằng du kích chiến và chiến tranh nhân dân, quấy rối, phá hoại, đánh tiêu hao, giết dần giết mòn sinh lực địch, đến khi địch không chịu nổi nữa phải rút quân, thì triển khai phục kích tiêu diệt. Thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo đã thành công ém quân phục kích ở cả hai đường thủy - bộ, đánh tan giặc trong lúc chúng đang rút về.
Năm 1979, ta đặt phục binh ở ngả Chi Mã. Nhưng sau đó do sự phối hợp thiếu ăn ý nhịp nhàng giữa sư đoàn 337 và 338, cũng như sự rút kinh nghiệm các chế độ trước của CHND Trung Hoa nên họ đã đề phòng và không lạc sâu vào trận địa mai phục. Do đó hai cánh quân 337 và 338 tuy có gây tổn thương lớn cho giặc, nhưng mưu kế phục kích đã không đem lại kết quả thắng lớn như mong đợi. Như vậy, trong kháng chiến chống Nguyên Mông thì quân ta phục kích trúng. Trong chiến tranh biên giới chống CHND Trung Hoa thì quân ta phục kích hụt. Thế nên cuộc chiến chống Nguyên Mông mới có trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng Giang lưu danh muôn thuở. Còn cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979 không có trận đại thắng quyết chiến chiến lược nào tương tự.
![]() |
| Truyện tranh chống bành trướng |
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giặc đều phải rút quân về nước. Chỉ khác nhau ở chỗ Pháp và Mỹ ký hiệp định rồi mới rút quân. Trung Quốc năm 1979 thì phải đơn phương rút quân do bị thương vong quá nhiều và không thể tiến thêm bước nào, không thể chọc thủng phòng tuyến của Việt Nam.
Thần uy và lòng nhân ái bao la của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trước cuộc xâm lấn của quân đội phương Bắc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Trong không khí cả nước ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã noi gương chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đứng lên đánh đuổi quân bành trướng Bắc Kinh. Bài viết có tựa đề rất giản dị và minh bạch: NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI, GIẶC TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI.
Bài kêu gọi này như những bài hịch truyền, lời hiệu triệu của Bác Hồ năm xưa kêu gọi toàn quốc đứng lên đánh Pháp đuổi Mỹ, giành lại độc lập chủ quyền.
"Bài hịch truyền" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu bằng đoạn:
"Cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh chống giặc Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ra quyết liệt ở các tỉnh biên giới phía bắc của nước ta.Và kết thúc bằng đoạn:
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn chống nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ những ngày đầu, quân và dân ta ở các tỉnh biên giới, từ Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu cực kỳ anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, gây cho quân giặc những tổn thất nặng nề.
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, ức triệu người như một, nhất tề đứng lên, chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Cả nước ta đang hướng về tiền tuyến phía bắc, sôi sục căm thù, tăng cường sẵn sàng chiến đấu, ra sức lao động quên mình, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Trung Quốc xâm lược.
Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố lệnh tổng động viên trong cả nước, để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: chủ trương quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân đang được khẩn trương thực hiện để đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc."
"Cả nước lên đường ra trận.Phần đầu mở bài thể hiện sự uy dũng của Thánh Gióng. Phần cuối kết bài cũng thể hiện sự uy vũ đó, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bao dung, vị tha, bác ái của Trần Hưng Đạo.
Giương cao ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn kính mến, với quyết tâm cao, với niềm tin lớn, quân và dân ta kiên quyết tiến lên, đánh thắng cuộc chiến tranh phi nghĩa của giặc Trung Quốc xâm lược, đưa sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam đến toàn thắng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Bọn phản động Trung Quốc xâm lược nhất định sẽ thất bại !
Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi !
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa muôn năm !"
Một số giai thoại "thâm cung bí sử" cho biết lúc đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp và TBT Lê Duẩn đang có nhiều bất đồng chính kiến, có nhiều khác biệt và mâu thuẫn không nhỏ. Song khi giặc đến nhà thì gạt sang hết qua một bên.
Đọc tới đoạn cuối bài viết đó tôi liên tưởng ngay tới giai thoại thời Trần, khi lúc đó Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải đang có mâu thuẫn lớn, hai người bằng mặt không bằng lòng. Nhưng đến khi giặc Nguyên Mông đến cửa thì lập tức gạt hết mọi ân oán sang bên. Đức Thánh Trần đã mời Trần Quang Khải đến tắm chung để giảng hòa.
Xưa và nay, dù trong nội bộ chính trị có bất hòa gì đi nữa thì khi có giặc đều lập tức thuận hòa, gạt bỏ việc riêng, gác lại mọi vấn đề cá nhân, hiềm khích, để bắt tay nhau chống ngoại địch, bảo vệ sơn hà.
![]() |
| Tranh cổ động quân đội chiến đấu chống bọn bá quyền xâm lược |
Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc
Sự "nói 1 đàng làm 1 nẻo" và tiền hậu bất nhất, thiếu nhất quán trong các tuyên bố và hành động của Đặng Tiểu Bình và chính phủ Trung Quốc khi đó đã cho thấy họ không chỉ có một mục tiêu duy nhất, mà họ có những mục tiêu không giống nhau, có mục tiêu ưu tiên, có mục tiêu dự phòng. Những mục tiêu thật sự của Trung Quốc trong cuộc chiến này có lẽ phải chờ rất lâu để có thể được giải mật. Còn hiện tại căn cứ trên nhiều tài liệu Việt Nam và nước ngoài, qua phân tích, theo nhận xét riêng thì tựu trung mục tiêu của Trung Quốc là như sau:
Thượng sách - Xâm chiếm thủ đô Hà Nội và miền Bắc Việt Nam. Biến miền Bắc VN thành một thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam. Vì mục tiêu cao nhất này nên quân Tàu đã tìm đủ cách để kéo tới Hà Nội nhưng bất lực bởi không vượt qua được các hàng phòng thủ của VN và thủ đô Hà Nội được bảo vệ bởi Quân đoàn 1. Trước đó Quân đoàn 1 đã xây dựng một phòng tuyến, bao gồm nhiều hàng rào phòng ngự dày đặc đóng quanh bảo vệ thủ đô Hà Nội, ngăn giặc tiến sâu vào vùng trung châu. Phòng tuyến này kiên cố hơn phòng tuyến Như Nguyệt của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.
Trước cuộc Nam xâm, tướng Dương Đắc Chí, một trong hai tướng chỉ huy của Tàu, đã ngạo mạn nói với thuộc cấp và binh lính đại ý: Chúng ta sẽ ăn Phở Việt Nam ở Hà Nội! Và nếu thích thì chúng ta cũng thừa khả năng tiến thẳng đến Hà Nội buổi sáng, đến Huế buổi trưa, và Thành phố Hồ Chí Minh buổi chiều.
Để chuẩn bị cho kế hoạch đó, Trung Quốc đã thủ sẵn quân bài Hoàng Văn Hoan và đồng bọn, đến lúc chín muồi sẽ đưa Hoan lên làm "thủ lĩnh anh minh" và thiết lập ngụy quyền, bắt lính, từng bước xây dựng ngụy quân. Thành lập "quốc gia", sau đó thỏa thuận cho các đồng minh, đàn em công nhận và thiết lập ngoại giao với "quốc gia" đó.
Nói chung, đây là mục tiêu nằm trong phần kế hoạch bành trướng xuống Nam của chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc, là một phần trong âm mưu Nam xâm, cướp nước, lấy miền Bắc VN làm bàn đạp để từng bước thôn tính khu vực Đông Dương và Đông Nam Á, hay ít nhất là khống chế khu vực này để cướp tài nguyên và trục lợi. Nối tiếp chuỗi dài "truyền thống" chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa Đại Hán của phong kiến Trung Hoa.
Mục tiêu này ngay từ những ngày đầu chiến cuộc đã tỏ ra khó khả thi. Sau này thực tiễn chiến trường cũng cho thấy Trung Quốc ngay cả một tia hy vọng nhỏ đến được thủ đô Hà Nội cũng không có. Mục tiêu này do đó đã phá sản ngay từ thời gian đầu.
| “Truyền thống” hung tàn bạo ngược bắt đầu từ thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng, cho đến thời hiện đại của cuồng đồ Đặng Tiểu Bình, kẻ nối nghiệp Thủy Hoàng Đế, đã được mở rộng và“xuất khẩu” sang Campuchia cho bọn chư hầu lâu la Khmer đỏ và đồng đảng áp dụng với chính dân tộc Khmer, sát hại tàn bạo khoảng một phần ba dân số Campuchia chỉ trong vòng hơn 3 năm. |
Trung sách - Xâm lấn đất đai lãnh thổ. Lấn chiếm vùng biên giới Việt - Hoa, đặc biệt là các thị xã then chốt bao gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam. Trước là lấn đất - giành dân, tranh thủ chiếm lợi về đất đai và tài nguyên. Sau là tạo tiền đề thuận lợi cho việc xâm lược lâu dài.
Kế này nhằm làm tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự của Việt Nam, xóa sổ các đồn biên phòng và một phần lực lượng vũ trang địa phương và các đơn vị vũ trang khác của Việt Nam.
![]() |
| Cái gọi là "quân uy" của lũ cướp nước. Gây chiến với Việt Nam, đạo quân xâm lược của Trung Quốc ngay cả heo, gà cũng bắt. "Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc" hiện nguyên hình là một đội quân ăn cướp, cướp của giết người, man di mọi rợ. |
Hạ sách - Cướp bóc, phá hoại, hủy diệt! Gây tổn thương nguyên khí và sinh lực Việt Nam, gây sốc cho tinh thần Việt Nam. Gây sức ép, áp lực Việt Nam phải bỏ dở kế hoạch tiêu diệt Pol Pot và Khmer Đỏ, tái thiết nước bạn Campuchia. Ép Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại với Trung Quốc, Liên Xô, Khmer Đỏ và chính sách đối nội với các tầng lớp tư sản mại bản Hoa kiều. Hủy hoại cơ sở hạ tầng và nền kinh tế để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ kiệt quệ rồi sụp đổ. Tạo tiền đề đưa chế độ tới chỗ suy vong, sụp đổ, tìm cơ hội đưa tay sai bù nhìn Hoàng Văn Hoan lên làm "thủ lĩnh anh minh".
Tất cả các thông tin về cuộc chiến này đều cho thấy: Cuối cùng Trung Quốc không đạt được điều nào trong 3 "sách" trên, trái lại bị thương vong quá nhiều phải chạy dài về nước. Họ không đến được Hà Nội, không có cơ hội nào đưa Hoàng Văn Hoan lên làm "An Nam quốc vương". Họ không thiết lập được một bàn đạp nào để xâm lược lâu dài, vài chục km đất địch cố giữ đều bị ta lần lượt giành lại trong các trận chiến sau này. Họ không tiêu diệt được sư đoàn nào hay lực lượng lớn nào của VN. Họ không buộc nổi VN từ bỏ nghĩa vụ ở Campuchia. Họ không ép buộc nổi VN thay đổi 1 chính sách nhỏ nào.
![]() |
| Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979 |
Những ngọn lửa hòa bình giữa Bắc Kinh
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc chưa đủ bề dày thời gian như cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1 tháng so với 21 năm), do đó nó chưa tích tụ đủ sự phẫn nộ để hình thành một cuộc chiến như cuộc chiến trong lòng nước Mỹ.
Nhưng từ khi thế lực cuồng chiến Trung Nam Hải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược vào quốc gia mà trước đó họ còn gọi là "huynh đệ", "đồng chí", "đồng minh", tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đã tự vạch mặt là kẻ thù nguy hiểm của Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á, là đối lập với các giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và của hòa bình, ổn định trong khu vực. Đồng thời họ bỗng dưng trở nên lạ lẫm, khác thường đối với chính nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là các bộ phận quý trọng hòa bình, tôn trọng công lý trong nhân dân Trung Hoa.
Người dân Trung Quốc sẽ nghĩ gì, tin gì, khi chỉ 10 năm trước đó (1969), thống soái Mao Trạch Đông của họ đã gởi 2 câu đối miêu tả chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất
Minh tinh quang nhật nguyệt, Á Âu hào kiệt thị vô song"
("Chí khí trải núi sông, anh hùng xưa nay chỉ có một
Sao sáng chiếu mặt trời và mặt trăng, hào kiệt Á - Âu không có hai")
Rồi bây giờ Đặng Tiểu Bình lại làm chuyện này? Người dân TQ sẽ nghĩ gì, tin gì, khi trong thời chống Pháp, Mao Trạch Đông gởi đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống thực dân Pháp đã dặn đoàn: "Tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ cho cha ông." Trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên sau khi Việt Nam thắng Pháp, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà Trưng.
Vậy mà, bỗng dưng đùng một cái, Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc trở mặt nhanh chưa từng thấy. Báo chí nhà nước Trung Quốc và cả Đặng Tiểu Bình đùng đùng chửi bới Việt Nam. Chưa ai kịp định thần để hiểu đầu cua tai nheo gì thì họ đã đưa quân tổng tấn công Việt Nam. Một sự phản phé, trở mặt nhanh không thể nào ngờ. Trong lịch sử đối ngoại, ngoại giao thế giới, có lẽ chưa có chính phủ nào tráo trở, bội phản nhanh chớp nhoáng đến mức độ đó. Hoàn toàn trở mặt, quay ngược 180 độ, từ minh hữu thành cừu địch chỉ trong tích tắc.
![]() |
| Những giá trị “bạn, thù” của Trung Quốc đảo điên quay tít như con thò lò trên biểu tượng phát xít Đức. |
Sự thay đổi quá nhanh và quá bất ngờ, không cho thời gian để dân chúng chuẩn bị tâm lý đó đã tạo ra phản ứng trái chiều. Và cũng ngay từ lúc tập đoàn bành trướng bá quyền trong giới cầm quyền Trung Nam Hải vừa mới phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì ngay ở thủ đô Bắc Kinh đã dấy lên một cao trào phản chiến mạnh mẽ. Do cuộc chiến ngắn nên phong trào phản chiến của nhân dân Trung Quốc chưa đủ thời gian để chín muồi và phát triển lớn mạnh, sâu rộng như phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ trước đây, nhưng nó cũng đủ làm cho bọn cuồng chiến bá quyền ở Bắc Kinh và Đặng Tiểu Bình phải chột dạ.
Thời đó, một loạt những tên ký dưới các truyền đơn và báo tường được người dân Bắc Kinh dán dày đặc trên khắp đường phố, người ta cũng đủ thấy trong lòng của thủ đô Trung Quốc đang tiềm ẩn mầm mống chống chiến tranh không hề nhỏ. Nguy cơ nổ ra biểu tình, bạo loạn, bất ổn đường phố, là có.
Nhiều tổ chức, hội kín hoạt động như: Đồng minh công nhân trẻ đấu tranh cho dân chủ và phồn vinh, Phản đế Liên hiệp hội, Giác Ngộ hội, Ủy ban hoạt động cho công lý, Liên minh nhân dân đấu tranh cho chân lý…. họ đều lên tiếng phản đối chiến tranh, và một loạt tập san phát hành bí mật như: Giác ngộ, Đấu tranh, Thức tỉnh, Chân lý, Diễn đàn nhân dân…. được lưu hành ở nhiều nơi, liên tục vạch mặt chính sách diều hâu cuồng chiến của Trung Nam Hải.
Có nhiều tờ truyền đơn đã lên án bọn cuồng chiến ở Trung Quốc bằng những lời lẽ đanh thép. Tờ truyền đơn của tổ chức Công nhân trẻ Đồng minh dán trên tường đã nghiêm khắc lên án:
“Hỡi bọn phản bội ở Trung Nam Hải! Nhân dân Trung Quốc không tin những lời giả dối của các ngươi nữa. Các người xúi giục nhân dân Trung Quốc để chống lại những người anh em Việt Nam, mưu đồ đó sẽ không bao giờ thành công. Tất cả những người Trung Quốc thật sự yêu nước sẽ hô to khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam” như trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam”.
Tờ truyền đơn của Phản đế Liên Hiệp hội kêu gọi:
“Hỡi đồng bào! Hỡi những người Trung Quốc chân chính!Trong những ngày Trung Hoa kéo quân đi xâm lăng Việt Nam, nhiều tổ chức chống chiến tranh xâm lược và nhiều tầng lớp nhân dân Trung Quốc phẫn nộ lên án tội ác bọn cuồng chiến Trung Nam Hải rất sôi nổi và rộng khắp tới mức chính quyền Bắc Kinh đã phải mặt dày ra lệnh cấm viết báo chữ to và cấm phát biểu ý kiến về cuộc chiến. Họ càng phơi bày bộ mặt thật và sự lúng túng, bị động của mình.
Bọn hắc bang đã xé toang mặt nạ của chúng. Sự tán tụng và xúi giục của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã làm cho đầu óc chúng mê nuội. Chúng đã đưa quân tiến đánh Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1979 là ngày sỉ nhục mà những người lao động Trung Quốc vĩnh viễn không bao giờ quên! Phải thanh toán con quỷ khát máu Đặng Tiểu Bình đã đẩy nước ta vào một cuộc chiến tranh tàn sát giữa những người anh em với nhau. Trong ngày đó, Đặng chẳng những đã giương lên ngọn cờ đen gây chiến tranh xâm lược chống nước láng giềng Việt Nam mà còn giương cả ngọn cờ đen nội chiến chống lại nhân dân Trung Quốc. Đả đảo bọn hắc bang Đặng Tiểu Bình, những tên đại lý của chủ nghĩa đế quốc đã bán rẻ linh hồn cho đế quốc Mỹ!”.
![]() |
| Biếm họa “Kế hoạch đột xuất làm thêm 800 triệu cái khóa”: vào thời điểm ấy, dân số Trung Quốc vào khoảng 800 triệu người. Một trong những trò bẩn của giới cầm quyền phát xít của trùm độc tài Đặng Tiểu Bình là “khóa mồm” bách tính, không cho họ được ý kiến gì về cuộc chiến tranh xâm lược do Đặng gây ra. |
Nhân dân Trung Quốc không phải là xấu, nhiều bộ phận dân Trung Quốc quả thật có thiện cảm, có cảm tình, và gắn bó mật thiết với Việt Nam, thật sự xem Việt Nam là bằng hữu, thậm chí còn là thân hữu, huynh đệ. Năm 1977, nhà máy dệt Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, sau một hồi chạy thử vẫn không hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp cho VN bí quyết. Sau đó sự việc bị lộ, bọn phản động bá quyền đã tra tấn người kỹ sư đó tới chết. Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ tráo trở điều về nước, một số đồng chí đã để lại nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho Việt Nam.
Do đó xưa nay Việt Nam luôn xác định chống bọn phản động bành trướng bá quyền Bắc Kinh chứ không chống toàn Trung Quốc hay nhân dân Trung Quốc. Chống thực dân Pháp chứ không chống cả nước Pháp hay nhân dân Pháp. Chống phát xít Nhật chứ không chống cả nước Nhật hay nhân dân Nhật. Chống đế quốc Mỹ (chủ nghĩa đế quốc của Mỹ) chứ không chống cả nước Mỹ hay nhân dân Mỹ. Những thành phần chống Việt, hiếu chiến, cực đoan, lái buôn chiến tranh, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, quá khích, diều hâu, có những chủ trương đường lối, quan điểm, lợi ích trái ngược với nguyên tắc độc lập tự do và lợi ích của ta thì những kẻ đó mới chính là đối tượng đấu tranh. Còn nhân dân là vô tội, vô can. Như Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn xác định lâu nay: Việt Nam mong muốn làm bạn, làm đối tác tốt của tất cả các dân tộc, nhân dân trên thế giới. Hiến pháp và luật pháp Việt Nam cũng không cho phép sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc.
Không được đụng tới Việt Nam!
Trong thời đại Hồ Chí Minh, quân đội của Việt Nam được xem là một trong những quân đội tinh nhuệ, thiện chiến hàng đầu thế giới, với tư cách là một quân đội đã chiến thắng đoàn quân vô địch Hoa Kỳ. Hình ảnh của quân đội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh luôn là một đội quân chân trần - chí thép, đối với dân luôn khoan hòa, lễ phép, còn đối với giặc thì "đạp lên đầu thù, dẫm lên cờ địch" mà từng bước đi qua xác quân giặc. Câu "Đường vinh quang xây xác quân thù" trong quốc ca Việt Nam đã nói lên phần nào ý nghĩa đó.
Một quân đội mà dù dính bao nhiêu vết thương trên mình thì vẫn đánh đâu thắng đó, dù thua trận chiến nhưng vẫn sẽ thắng cuộc chiến. Người đầy thương tích, vũ khí lạc hậu cũ kỹ thô sơ nhưng đánh thắng hết giặc này đến giặc khác. Bọn giặc nào phải kẻ tầm thường, họ là 3 trong 5 siêu cường thuộc Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc (Pháp, Mỹ, CHND Trung Hoa). Trong quân sử Việt Nam và thế giới thật khó kiếm một lực lượng quân đội nào anh hùng hơn, chưa thấy một quân đội nào đánh bại nhiều giặc hơn, đánh bại những loại giặc mạnh hơn.
Một quân đội anh hùng như vậy, với một tư cách như vậy, với một "thương hiệu" như vậy thì sẽ làm gì khi có quân giặc dám xâm lược Việt Nam? Những tên giặc ở quá xa như Pháp, Mỹ thì Việt Nam không thể phản công trả đũa vào nhà họ để tiêu diệt hậu cần và nguồn gốc xâm lược. Việt Nam chỉ có thể giáng cho họ những tổn thất, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.
![]() |
| "Hội chứng Việt Nam" của người Mỹ |
Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn” và “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”. Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự tử bằng những cách thức ghê rợn.
Khi Khmer Đỏ, đàn em được Trung Quốc chống lưng và chỉ đạo, xâm lược biên giới Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phản công trả đũa vào tận thủ đô của địch và bứng đi nguồn gốc tội ác, mầm mống xâm lược.
| Huyện Hà Khẩu thuộc tỉnh Vân Nam, TQ. Nhìn từ phía Việt Nam. |
Cuối tháng 2 năm 1979, QĐNDVN đã tiếp nối chiến công Bắc phạt của Lý Thường Kiệt và những tấm gương phản công trả đũa và tiêu diệt những căn cứ nội địa mà giặc xâm lược dùng để tấn công nước ta trong cuộc tổng phản công biên giới Tây Nam chống Pol Pot. Quân ta đã đồng loạt phản công mạnh mẽ vào đất Tàu.
Trước khi quân đội Trung Quốc tấn công Việt Nam thì huyện Ninh Minh (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN), huyện Ma Lật Pha (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Hà Giang của VN), huyện Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Lào Cai của VN), huyện Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Quảng Ninh của VN), thị xã Bằng Tường (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN) được địch dùng làm căn cứ hậu cần, dự trữ lương thực, nhưng trong những ngày cuối tháng 2 năm ấy những căn cứ hậu cần, những kho chứa lương thực của Trung Quốc đã bị Quân đội Nhân dân Việt Nam phản đòn tràn sang đánh thẳng vào các nơi ấy và phá hủy san bằng.
Đặc biệt huyện Ninh Minh (宁明县) và huyện Ma Lật Pha (Malipo - 麻栗坡县) là 2 nơi bị quân ta phản kích vào dữ dội nhất. Thông tin này còn được ghi nhận trong tài liệu "China's War With Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications" (Hoover Press xuất bản năm 1987) của giáo sư chính trị học Mỹ King C. Chen, chuyên môn về chính trị châu Á.
Đó chỉ là lần thứ hai trong chiến sử Việt Nam mà một quân đội người Việt đánh vào lãnh thổ chính thức của Trung Quốc. Lần thứ nhất là cuộc "tấn công để phòng thủ" của Lý Thường Kiệt. Danh tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản tấn công trước vào đất Tống là để tiêu diệt kho hậu cần, lương thảo mà giặc Tống chuẩn bị để tiến đánh Đại Việt.
Quân đội Nhân dân Việt Nam trả đòn, phản công vào lãnh thổ Trung Quốc cũng với mục tiêu đó, đồng thời còn là để trả đũa và răn đe. Sự phản công vào Ninh Minh, Ma Lật Pha, Hà Khẩu, Đông Hưng, Bằng Tường của quân đội Việt Nam cuối tháng 2 đã góp phần không nhỏ vào quyết định lui quân toàn bộ của Trung Quốc vào ngày 5/3/1979. Mở đường cho một loạt tập kích 13 ngày đêm, đẩy lui hơn 50 vạn đại quân Trung Quốc về nước vào ngày 18/3/1979.
Thiếu Long
Để đọc chi tiết cụ thể hơn về cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, xin mời đọc tại đây:
- Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử - Đại tướng Võ Nguyên Giáp
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ(1)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.
Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên - Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.
Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đánh Mỹ!”.
Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”.
Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.
Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.
Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.
Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.
Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.
Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.
Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.
Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.
Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.
Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.
Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nơi cách Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lớn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồn thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.
Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.
Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.
Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.
Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.
Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.
Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.
Trải qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.
Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu - A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.
Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải "phi Mỹ hóa” - “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “b́ình định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.
Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.
Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.
Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam - Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh
Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.
Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.
Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng hai đế quốc to trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?
Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông - Nguyên - đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.
Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ và Di chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.
Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).
Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.
Trong thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.
Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.
Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.
Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.
Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.
Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.
Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.
Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.
Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.
30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.
60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.
Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.
Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.
Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.
Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
(2) Sđd, t.4, tr.480.
(3) Sđd, t.12, tr.323.
(4) Sđd, t.10, tr.67.
(1) Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.
THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ(1)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.
Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên - Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.
Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đánh Mỹ!”.
Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”.
Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.
Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.
Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.
Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.
Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.
Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.
Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.
Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.
Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.
Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.
Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nơi cách Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lớn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồn thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.
Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.
Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.
Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.
Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.
Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.
Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.
Trải qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.
Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu - A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.
Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải "phi Mỹ hóa” - “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “b́ình định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.
Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.
Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.
Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam - Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh
Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.
Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.
Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng hai đế quốc to trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?
Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông - Nguyên - đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.
Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ và Di chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.
Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).
Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.
Trong thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.
Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.
Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.
Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.
Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.
Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.
Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.
Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.
Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.
30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.
60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.
Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.
Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.
Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.
Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
(2) Sđd, t.4, tr.480.
(3) Sđd, t.12, tr.323.
(4) Sđd, t.10, tr.67.
(1) Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








