Trước đây, trong một bài viết nhân Ngày sinh nhật Bác, tôi có nêu nhận xét: "Khi đây đó trên báo chí vẫn phản ánh có những cán bộ "nói không đi đôi với làm", thậm chí miệng nói "thương dân", "yêu dân" nhưng trong cách hành xử lại không có gì là trọng dân, là tin dân, thậm chí có những việc làm chà đạp lên danh dự và quyền lợi hợp pháp của dân, những lúc như thế, tôi càng muốn nhắc nhiều tới Bác, một lãnh tụ luôn hiểu dân, tin dân và rất thương dân. Vì tin nên mới yêu và nói theo cách ngược lại: Đã yêu thì phải tin".
Đúng vậy, vì yêu dân nên trong Bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình Ngày 2/9/1945 - một bản Tuyên ngôn được xem là "thiên cổ hùng văn", là "chuẩn mực, súc tích đến từng câu từng chữ", bên cạnh thông điệp gửi tới nhiều đối tượng, trong đó có chính phủ các nước Âu, Mỹ, có thể nói, đại đa phần nội dung của bản Tuyên ngôn là Người dùng để nói với đồng bào trong nước. Mà đồng bào ta lúc đó thì đại bộ phận ở vào tình trạng mù chữ. Giá trị của sự độc lập, tuy rằng ai cũng hiểu, cũng thấm thía, song độc lập từ đâu tới, độc lập cần phải tiếp tục được gìn giữ như thế nào, rồi thì những nỗi thống khổ trong quá khứ và vị trí thực tế của Việt Nam hiện nay ra sao… - tất cả những điều đó đã được người đứng đầu Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân tích thấu đáo bằng một ngôn ngữ thể hiện hết sức bình dị, dễ hiểu.
Ta có thể tìm thấy trong bản Tuyên ngôn không ít những câu, những chữ: "Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật"; "Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng"; "Sự thật là dân tộc ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp".
Chúng ta sẽ khó tìm thấy trong ngôn ngữ diễn văn của các vị đại diện thời ấy những cách dùng chữ gần với lối nói hàng ngày, gần với cách cảm, cách nghĩ của đại chúng đến vậy ("thế là", "chẳng những", "giết nốt", "chứ không phải"). Tất cả xuất phát từ nhu cầu muốn sẻ chia, tâm sự của vị lãnh tụ cách mạng với đồng bào thân yêu của mình. Nhà thơ Xuân Diệu quả là rất tinh tế khi trong bài tùy bút "Ngày độc lập 2/9/1945" đã phát hiện ra rằng: "Thì ra Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa hề đọc diễn văn với đồng bào. Chủ tịch tuyên ngôn là tuyên ngôn với ai chứ chẳng hề "tuyên ngôn" với đồng bào".
Cũng vậy, tìm hiểu nội dung các bản Di chúc mà Bác đã viết từ năm Bác 75 tuổi đến năm Bác 79 tuổi, cùng việc nghiền ngẫm, phân tích những chỗ gạch xóa, sửa chữa của Bác trong những bản viết ấy, tôi rất xúc động khi nhận ra một điều: Là người trọn đời lo cho dân cho nước nên có những bản Di chúc mà về cấu trúc đã hoàn chỉnh, nhưng mỗi khi nảy ra ý kiến gì mới góp cho việc nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, Bác lại lấy bút ghi thêm đôi dòng ngoài bản Di chúc đã có. Bởi vậy với tôi, mặc dù bản Di chúc của Bác được Trung ương Đảng công bố năm 1969 là bản hoàn thiện nhất, có thể coi là một áng văn mẫu mực lưu truyền mãi muôn đời, song để hiểu thêm kích cỡ tâm hồn của Người, ta không thể không tiếp xúc với tất cả những bản Di chúc mà Người đã viết.
Vì gần dân, yêu dân nên Bác rất tin dân. Trong cuốn hồi ký "Nhớ lại một thời", nhà thơ Tố Hữu từng kể rằng: Tháng 10 năm 1965, khi không quân Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, ông được Bộ Chính trị cử vào công tác tại khu IV. Trước khi đi, ông đến xin ý kiến Bác. Khi Bác đặt câu hỏi: "Chú biết làm thế nào cho Đảng vững mạnh không?". "Dạ, phải giáo dục thật tốt các cán bộ đảng viên". "Ai giáo dục?" - Bác "vặn" lại. Đến đây, nhà thơ thực sự lúng túng, bèn thưa: "Xin Bác chỉ thị cho bọn cháu làm tốt". Bác nói: "Không nên hỏi Bác, mà nên hỏi dân mới đúng". Rồi Bác chỉ dẫn: "Chú nên bàn với các Tỉnh ủy, Huyện ủy cách làm này: Đến từng cơ sở làng, xã, họp dân lại, nêu câu hỏi rất đơn giản: "Ở làng ta, ai sản xuất giỏi" và mời dân phát biểu thẳng thắn. Họ sẽ chỉ cho mình biết những người ấy là ai. Rồi các chú xem lại, những đảng viên, cán bộ hiện nay, đã được bà con nhận xét thế nào? Ai được dân tín nhiệm... Những đồng chí được dân yêu mến, tin cậy nhất mới xứng đáng là người lãnh đạo của Đảng bộ. Trái lại, ai bị dân khinh ghét thì không thể là người lãnh đạo, cần thay đổi ngay". Kể lại chuyện này, nhà thơ Tố Hữu đúc kết: "Đúng như Bác nói: Chỉ có dân mới biết được ai thật xứng đáng là cán bộ, đảng viên. Dân ta rất tốt, rất tinh, biết tin dân thì mới được dân tin".
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự thật - giả đang ngày càng bị pha trộn. Đây đó vẫn còn không ít vị lời nói không đi đôi với việc làm. Thậm chí, ngay cả khi nói, các vị đó cũng không cần để ý xem hiệu ứng tiếp nhận của người nghe thế nào; những điều mình nói có gần với mối quan tâm thường ngày, có gần với những quyền lợi sát sườn của họ không! Những lúc như vậy, càng thấy việc ôn lại những lời nói, việc làm của Bác cần thiết biết bao.
Tường Duy (CAND)
------------------------------------------------------------------------
Lời bàn:
Việc loại bỏ văn hóa "chạy chọt" trong cả nước, mà trọng tâm là các cơ quan lãnh đạo cao nhất, các "cửa vào" đầu tiên của Đảng, cơ quan nhà nước, quân đội, và trường học.
Đây là vấn đề rất quan trọng vì đây là cái gốc của vấn đề. Thời của Bác Hồ chưa phát sinh tệ nạn "chạy" này nên Bác Hồ không nói gì chi tiết cụ thể về vấn đề này, nhưng nếu tệ nạn này mà phát sinh lan tràn vào thời đó thì, căn cứ trên nhiều bài viết và bài nói của Bác Hồ, và với tư duy hành động sát sao thực tiễn của Người, tôi tin rằng Người sẽ đặt cho chúng ta câu hỏi thiết thực, giản dị, và quan trọng nhất: Làm sao để người ta không thể "chạy" được.
Đây là việc rất khó, phụ thuộc nhiều vào vấn đề cơ chế và con người. Phải chăng nên có phong trào toàn dân hiến kế, bày cách để "diệt chạy"? Tôi thấy việc góp ý này còn thiết thực và hữu ích hơn nhiều so với vụ "góp ý Hiến pháp" vừa rồi, vì tôi nghĩ Hiến pháp là việc của những người hiểu luật và có chuyên môn trong Quốc hội, dân đã bầu ra QH để lo việc thảo luận, góp ý, soạn thảo Hiến pháp, rồi bây giờ dân lại góp ý soạn Hiến pháp, thấy có gì đó không thích hợp, và lại còn tạo điều kiện màu mỡ cho những kẻ "nhân sĩ trí thức giấy" hoặc "trí thức trái nghề" (ví dụ làm kỹ sư nhưng thích phán chính trị) phán bừa bãi, và bọn lưu manh chính trị ở hải ngoại tuyên truyền phản động, trong đó có sự lợi dụng, thông qua những người tạm gọi là "trí thức" kể trên.
Các bình luận (1)

Xếp theo: Ngày Đánh giá Lần sửa cuối
Tải các bình luận...
Đăng bình luận mới
Bình luận mà không log-in, hoặc log-in:
Trở lạiConnected as (Logout)
Không hiển thị công khai.
Gửi bài nặc danh.
Chỉ cần điền tên vào rồi gởi bình luận. Bấm vào các tiện ích trên góc phải thanh soạn thảo để thêm mặt cười hoặc Youtube video. Hệ thống bình luận này hỗ trợ các lệnh HTML cơ bản như chữ đậm, chữ nghiêng, gạch dưới, đăng hình.
Comments by IntenseDebate
Trả lời mà không log-in, hoặc log-in:
Trở lạiĐã log-in bằng tên (Thoát)
Không hiển thị công khai.
Gửi bài nặc danh.
Bài học Hồ Chí Minh: Có yêu dân mới được dân yêu
2013-06-12T15:24:00-07:00
Thiếu Long
bác hồ|gần dân|hồ chí minh|thương dân|yêu dân|
thieulongtexas 72p · 588 tuần trước
Vào dịp Xuân Canh Ngọ (2-1942) tập thơ “Lịch sử nước ta” do lãnh tụ Hồ Chí Minh biên soạn, được Tổng bộ Việt Minh xuất bản, ra mắt vào dịp mừng xuân. Cuối tác phẩm có mục “Những năm tháng quan trọng” ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, sự kiện cuối cùng, Người viết: 1945 – Việt Nam độc lập.
Tức là năm 1942 Bác Hồ đã dự báo khoa học rằng năm 1945 VN sẽ độc lập. Trong khi các nguyên thủ của phe Đồng minh họp tại thủ đô Tehran (Iran) năm 1943 với thông tin, dữ liệu khoa học từ bao nhiêu nhà bác học thiên tài người Nga, người Mỹ, người Âu, mà họ vẫn dự đoán rằng phải đến năm 1946 mới có thể đánh bại được phe Trục phát xít, kết thúc chiến tranh thế giới.
Lịch sử rốt cuộc diễn ra đúng như lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiên đoán trong những ngày xuân năm 1942: Năm 1945, Hitler tự sát, Đức Quốc Xã tan nát, Liên Xô đánh tan tác lực lượng tinh binh Quan Đông chủ lực của phát xít Nhật, Mỹ ném bồi thêm 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố lớn Hiroshima và Nagasaki của Nhật, Nhật Hoàng đầu hàng, sĩ quan Nhật mổ bụng tự sát. Nắm cơ hội đó, nhân dân cả nước Việt Nam, dưới sự điều động của Việt Minh, nổi dậy làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành lại độc lập trên toàn quốc.
Năm 1960 chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán: Chậm nhất là 15 năm nữa nước nhà sẽ thống nhất. Trong diễn văn bế mạc Bác đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2-9 tổ chức ở Nhà hát lớn Hà Nội, có đoạn viết: “Trong lúc chúc mừng ngày Quốc khánh vĩ đại lần thứ 15, chúng ta càng nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm. Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc – Nam nhất định sum họp một nhà”.
Điều kỳ diệu là trong bản thảo diễn văn, Bác Hồ đã gạch dưới để nhấn mạnh các chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”, và trong lúc đọc diễn văn thì Bác Hồ cũng tăng âm lượng đọc một cách mạnh mẽ để nhấn mạnh câu "chậm lắm là 15 năm nữa".
Ngày 8/12/1974 đến 8/1/1975, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam họp hội nghị mở rộng và ra nghị quyết về kế hoạch chiến lược 2 năm, dự đoán là sẽ hoàn thành giải phóng miền Nam trong 2 năm, đến năm 1976 mới hoàn tất được sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và giải phóng miền Nam. Bộ chính trị Việt Nam lúc này toàn là những bộ óc chiến lược quân sự kiệt xuất, ưu tú hàng đầu thế giới lúc bấy giờ. Tuy nhiên sau này diễn biến thực tế lại diễn ra đúng theo dự đoán của Bác: Kế hoạch 2 năm đã trở thành cuộc tấn công và nổi dậy 55 ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Những bộ óc chiến lược chính trị và quân sự tài tình nhất của thế giới và Việt Nam khi dự đoán một sự kiện then chốt quan trọng thì đều trật 1 năm, Bác Hồ dự đoán chính xác. Điều nữa làm các nhà tiên tri, các nhà nghiên cứu tương lai học (futurology) phải nhức đầu khó hiểu là Bác Hồ đã tiên đoán trong một thời điểm xa hơn thời điểm mà những người khác dự đoán, mà vẫn chuẩn xác trong khi các tiên đoán kia thì trật 1 năm. Bác Hồ đoán vào năm 1942, các nguyên thủ và chuyên gia phe Đồng minh tiên đoán vào năm 1943. Bác Hồ đoán vào năm 1960, BCT ĐLĐVN dự đoán vào đầu năm 1975. Vậy mà họ đều trật 1 năm.
Nhiều lúc mình ko hiểu tại sao lại có thể có đc một nhân vật kỳ tài kiệt xuất đến như vậy, tác giả Thái Lan (clip ở dưới) gọi Bác là ông tiên, một nhà sư Thái Lan cũng từng gọi Bác là thánh sống, đa số nhà nghiên cứu lịch sử trên thế giới gọi Bác là thiên tài cũng rất đúng.
Nếu Bác Hồ còn sống, chưa dám nói VN, khu vực và thế giới sẽ xây dựng CNXH thành công. Nhưng chắc chắn quá trình, tiến trình xây dựng nó sẽ không chập chững, trì trệ, chông gai, đầy gian nan trắc trở như bây giờ. Và chắc chắn rằng tệ nạn tham nhũng, bọn tham nhũng và một bộ phận "vô sản lưu manh" và "đại gia tư bản có thẻ Đảng" đã không lộng hành như bây giờ.