Dụng nhân khó hơn dụng mộc

Người xưa có câu "dụng nhân như dụng mộc", nhưng thực tiễn xã hội cho thấy dụng nhân thật ra khó khăn và phức tạp hơn dụng mộc rất nhiều.

Xã hội loài người là xã hội phức tạp nhất, dùng người đúng cách còn tùy thuộc vào dùng ai, ai là người dùng, môi trường sinh hoạt là gì. Xếp của bạn là một người nước ngoài nghiêm khắc bạn sẽ ứng xử khác, là một người Việt xuề xòa bạn sẽ ứng xử khác. Nhân viên của bạn là một ông trung niên nghiêm túc bạn sẽ ứng xử khác, là một cô bé mới ra trường rắn mắt tinh nghịch bạn sẽ ứng xử khác.

Dĩ nhiên luật lệ là nhất quán và phân xử phải công minh. Nhưng cách ứng xử của bạn đối với từng người để bảo vệ và phát triển lợi ích riêng và lợi ích chung lên cao nhất, giúp phát huy năng lực của cán bộ công nhân viên dưới quyền đến mức cao nhất, làm sao cho thích hợp với từng người, phù hợp với khả năng, năng lực, năng khiếu, sở thích từng người v.v. là đều khác nhau.

Hồi đang học, chưa đi làm, mình rất lấy làm trọng lý thuyết. Cứ thuộc lòng những nguyên lý hồng - chuyên, tài - đức, và các tiêu chí cơ bản làm thế nào là một người hiền tài v.v., tham khảo đủ loại người, lý thuyết, quan điểm, sách vở.

Đến khi bước vào đời, đi ra làm một thời gian mới thấy thực tế phức tạp lắm chứ không đơn giản như lý thuyết. Rõ ràng dùng người, làm công tác cán bộ, công tác nhân viên thì trong đầu không thể chỉ có các khái niệm "hồng - chuyên", "tài - đức" chung chung, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tính thích hợp, và nhiều khi cái "tính thích hợp" này là do trực giác, là do suy nghĩ ra, nhưng bảo giải thích ra, nói ra bằng ngôn ngữ thì không dễ, có rất nhiều yếu tố cân đo đong đếm vào. Ví dụ sự kinh nghiệm, sự quen việc, tính liên tục, sự thiếu người, sự cần người, nhu cầu, sự hạp rơ, sự kỵ nhau v.v. một người làm giỏi việc này chưa chắc đã làm giỏi việc kia, một người làm việc nhóm với người này phát huy hết khả năng nhưng chưa chắc đã được như vậy với người kia, có khi còn cãi nhau chí chóe, chơi nhau, chọt nhau, bao nhiêu tâm lực, tài trí, mưu kế thay vì dùng cho giải quyết việc chung thì dùng cho giải quyết việc riêng, lợi ích riêng, và đấu đá lẫn nhau, đàn áp, triệt hạ phe cánh.

Có người dùng binh giỏi nhưng chưa chắc dùng tướng giỏi. Có người sử dụng nhân viên, cán bộ cấp thấp giỏi, nhưng lại không sử dụng nổi các cán bộ, nhân viên cấp cao, càng không làm cho những giám đốc phục mình được. Người sử dụng nhân viên giỏi là một nhà quản lý, một giám đốc giỏi, nhưng người sử dụng giám đốc giỏi thì là người chủ giỏi, còn người sử dụng tướng, sử dụng quan giỏi thì là nhà vua giỏi.

Một quan chức đầu tỉnh, chủ tịch tỉnh, BTTU có thể quản lý một tỉnh rất giỏi, rất nghề, nhưng chưa chắc khi vào TW họ cũng sẽ làm được việc như thế. Vì lãnh đạo trong Trung ương là cả một chân trời mới, có rất nhiều vấn đề khác, vấn đề mới lạ, phạm vi trách nhiệm mở rộng ra hơn nhiều, gánh nặng trên vai và áp lực trách nhiệm cũng nặng nề hơn rất nhiều. Ví dụ đứng đầu 1 tỉnh thì đầu tiên là chúng ta có thể thấy là họ không cần động tay động chân nhiều tới an ninh quốc phòng, quân đội, tình báo, đối ngoại và những vấn đề mang tính vĩ mô toàn quốc, họ chỉ việc lo cho tốt địa phương, tỉnh thành của họ. Những lãnh đạo cao cấp Trung ương thì khác, họ có nhiệm vụ, trách nhiệm khác, vì vậy trách nhiệm đó đòi hỏi ở họ những tiêu chí, phẩm chất khác một lãnh đạo địa phương, lãnh đạo tỉnh.

Theo hệ thống từ thấp lên cao, từ địa phương lên trung ương của VN và TQ thì đây là hệ thống khá an toàn, với hệ thống phải vượt qua bao nhiêu thử thách, trách nhiệm, công việc, hòn tên mũi đạn mới lên được cao nhất thì rất khó để bị dính nhằm các tổng thống kém tài đức như Martin Buren, William Harrison, James Polk, Millard Filmore, Andrew Johnson, Ulysses Grant, Rutherford Hayes, William Taft, cha con nhà Bush v.v. của Mỹ, với một hệ thống ai có tiền là ra tranh cử bất kể họ có ngày nào quản lý địa phương và đất nước hay chưa, kết quả là hễ ai có quỹ tranh cử cao hơn, được sự ủng hộ mạnh hơn của các tập đoàn tài phiệt tư bản, PR mạnh hơn đều đắc cử, với một hệ thống "đại cử tri" mập mờ.

Thời loạn thì dễ tìm những người từ thường dân nhảy vọt lên làm vua, làm quan, làm tướng, vì loạn thế đã chính là thử thách của họ. Ví dụ chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp, thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhiều đảng viên cộng sản ưu tú khác thời bấy giờ đều là những người tài đức xuất thân dân dã. Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Tây Sơn Tam Kiệt, Tây Sơn Ngũ Hổ Tướng v.v. đều xuất thân dân dã. Nhưng con đường đi lên quyền lực của họ rõ ràng là đầy thử thách gian nan, đầy trải nghiệm gian khổ, phải vượt qua bao nhiêu khó khăn, phải đối đầu và đánh bại bao nhiêu thù trong giặc ngoài.

Do đó thời chiến, thời loạn thì thường có những lãnh đạo đó. Nhưng thời bình mà ai đó tự nhiên từ đâu đó bước ra rồi vọt lên làm chức vụ cao nhất, gánh trách nhiệm to nhất thì không dễ, mà còn vô lý, vì rõ ràng là họ chưa từng kinh qua thử thách, kinh nghiệm nào.

Trong thời loạn, thời chiến, xã hội còn phân tán chưa được quy củ và chưa có những hệ thống rõ ràng, làm cho những nhân vật kiệt xuất tự do tung cánh, dễ thể hiện mình, người ta nói "loạn thế xuất anh hùng" hay "thời thế tạo anh hùng" là vì vậy. Đưa tới những giai thoại "cầu hiền" và "lặn lội tìm minh chúa" rất thú vị.

Trong thời bình, xã hội đã thành nề nếp quy củ với những hệ thống, chế độ đã được thiết lập. Tại VN, với hệ thống từ thấp lên cao, từ dễ tới khó, các học sinh đậu các kỳ thi rất khó khăn, ra khỏi phổ thông cũng không dễ, thi vào đại học rất khó và tốt nghiệp đại học cũng vô cùng khó, sau đó bắt đầu ra đời kiếm việc làm. Như vậy, trên lý thuyết, thì người ông tuyển dụng mà có lý lịch là đã tốt nghiệp đại học thì đáng lý ra là những nhân tài, những "lão binh già dặn lết ra từ sa trường", nhưng thực tế trên thế giới có phải luôn như vậy không? Thực tế rất nhiều người tốt nghiệp đại học với học vị, học hàm đầy mình, học lực rất cao, thành tích rất nhiều, thầy cô bạn bè đề cao, nhưng khi bắt tay vào làm thì lại kém. Giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa từng nói đại ý đào tạo một công nhân hạng 7 khó hơn một phó tiến sĩ cùng chuyên môn nhiều, và người công nhân đó có giá trị, hữu dụng hơn một vị phó tiến sĩ nhiều. Đó là một nhận xét rất khoa học, thực tế và khách quan, thoát ra khỏi mọi lối mòn suy nghĩ thông thường. Bill Gates có tốt nghiệp đại học đâu.

Do đó cái hệ thống quy củ thời bình, cái chế độ giáo dục đào tạo thời bình, nhất là với VN còn coi trọng văn hóa khoa bảng, tiểu sử học hành, thì sẽ rất dễ bỏ qua, bỏ sót những người tài đức nằm ngoài hệ thống mặc định đó, ví dụ những người bỏ học giữa chừng, những người mới bắt đầu và chưa có tiểu sử làm việc ấn tượng v.v., thật ra có rất nhiều nguyên nhân khiến người ta bị rớt ra ngoài hệ thống tiến thân mặc định của xã hội, chứ không phải là do họ bất tài vô dụng, trong họ còn rất nhiều người tài năng mà cộng đồng, xã hội bỏ sót chưa phát hiện ra. Trong khi rất nhiều người tiến thân theo con đường mặc định thì lại bất tài vô đức, chủ yếu do những tiêu cực bằng giả, mua điểm, mua đề thi và tình trạng "học vẹt", "học thuộc lòng", "bệnh thành tích", từ những yếu kém, bất cập trong ngành giáo dục.

Do đó, người lãnh đạo, người tuyển dụng nên có cái nhìn rộng lớn, cởi mở, không bị bó buộc tù túng trong lối mòn tư duy khoa bảng, bằng cấp, lý lịch, tiểu sử, không chạy theo những tư duy mặc định, những định kiến, thành kiến trong xã hội. Thấy người có tiềm chất, tiềm năng ưu tú, có năng khiếu gì đó thì phải dùng ngay, kể cả khi họ chưa có 1 kinh nghiệm, thành tích gì, hay thậm chí trình độ văn hóa còn kém (thời chiến loạn, thời phong kiến, thời kháng chiến có rất nhiều vua quan, danh tướng, lãnh đạo cấp cao xuất thân dân gian với trình độ văn hóa có khi chưa học xong tiểu học, nhưng đều phát triển thành những nhân tài xuất chúng, có công với quốc dân, trở thành những đại công thần của đất nước).

Để an toàn hơn thì chúng ta có thể cho những đối tượng tiềm năng đó thử việc với lương tối thiểu (minimum wage). Hoặc học hỏi chương trình Internship rất thịnh hành ở Mỹ, công ty tạo điều kiện cho sinh viên tình nguyện làm việc miễn phí để thử nghiệm và lấy kinh nghiệm công việc. Không ai bắt phải mạo hiểm tới mức đem những "tờ giấy trắng" đùng một cái đưa lên vị trí cao nhất sau những cuộc thi đua mị dân, thi đua PR, thi đua vận động, thi đua quỹ tranh cử, thi đua hứa hẹn, nhưng ít ra chúng ta cần cho họ một cơ hội, một sự bắt đầu, tránh lãng phí chất xám, bỏ sót nhân tài.

Dù là quản lý địa phương và quản lý cả nước cần những tiêu chí, phẩm chất không hoàn toàn giống nhau, nhưng nó cũng không đối lập với nhau, và dĩ nhiên khi ông lên làm lãnh đạo TW thì tuy không cần ông quản lý địa phương được siêu đẳng nhưng ít ra nó phải khá. Không quản lý được một vùng thì làm sao quản lý được một nước? Như Bác Hồ hay nói: Không làm xong việc nhỏ thì không làm được việc lớn.

Tuy nhiên, không nhất thiết là người quản lý địa phương phải có thành tựu quá "siêu" thì mới quản lý được một nước. Và một người quản lý địa phương rất giỏi vẫn chưa chắc quản lý một nước được tốt. Một vài ví dụ:

Bạc Hy Lai quản lý Trùng Khánh (Trung Quốc) rất tốt, nhưng chưa chắc lên TW ông ta sẽ làm việc tốt. Sở dĩ Trùng Khánh phát triển như vậy, tốt như vậy mà Bạc Hy Lai không ra được TW là vì:

- TW TQ chưa thống nhất đồng thuận với một số cách làm độc đoán, mang tính chất độc tài ở "tiểu vương quốc" Trùng Khánh, thậm chí dè dặt, chống đối. Cả chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo đều chưa bao giờ đặt chân đến Trùng Khánh trong thời kỳ Bạc Hy Lai cầm quyền ở đây.

- Một số điều tiếng về Bạc gia nhưng lúc bấy giờ chưa có chứng cớ. Dĩ nhiên đưa những người có điều tiếng như vậy ra TW là cả một sự mạo hiểm, có thể ảnh hưởng tới tồn vong của chế độ, thịnh suy của đất nước, và an nguy của công dân.

- Chính vì chưa có sự tin tưởng, chắc chắn, rõ ràng, nên TW TQ đã quyết định để Bạc Hy Lai làm "vua 1 cõi" ở Trùng Khánh, cứ để làm ở tỉnh Trùng Khánh thì có lợi hơn, theo nguyên lý "làm tốt cái gì thì cứ để làm cái đó", "if it's not broken, don't fix it" (nếu nó không bể thì đừng sửa, ngụ ngôn Mỹ), "đừng chữa lợn lành thành lợn què" v.v.

Nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi làm BTTU tỉnh Sông Bé đã có công lớn trong việc vực dậy nơi đó, sau này trở thành Bình Dương và Bình Phước, từ một nơi nghèo nàn tụt hậu, "khỉ ho cò gáy" không có tương lai, BTTU Nguyễn Minh Triết đã đưa nó trở thành một trong những nơi phát triển nhanh nhất VN. Ngày nay các bạn tới Bình Dương và Bình Phước thì sẽ thấy được sự trù phú khác hẳn với thời Sông Bé trước khi ông Nguyễn Minh Triết tới đó.

Nhưng sau khi ông Triết ra khỏi nơi đó, lên dần, ra TW, rồi lên làm Chủ tịch nước thì vai trò mờ nhạt dần. Không còn làm ra được bao nhiêu việc ấn tượng như thời kỳ công tác ở Sông Bé, Bình Dương.

Ông Nguyễn Bá Thanh, BTTU tỉnh Đà Nẵng, ông Thanh có nhiều người ủng hộ vì nhiều người đánh giá Đà Nẵng là nơi đáng sống nhất VN, là tấm gương rất tốt về việc vừa giữ được phát triển kinh tế nhanh vừa giữ được môi trường tốt. Tuy nhiên ông cũng bị một số đánh giá là "độc tài", "độc đoán", và một số điều tiếng, cáo buộc nọ kia, vấn đề quy hoạch, khiếu kiện đất đai cũng là vấn đề rất nóng ở Đà Nẵng, khiến ông Thanh từng phải đối thoại công khai với bà con nông dân để trấn an và làm rõ các vấn đề.

Dĩ nhiên những điều tiếng của ông Thanh thì không thể bằng được với các điều tiếng của Bạc Hy Lai, 2 sự việc, 2 nhân vật, 2 thực tiễn khác nhau xa. Nhưng nếu là một thành viên Trung ương, thì bạn có nhất trí giơ tay ủng hộ ông Thanh ra TW không? Câu trả lời không dễ chút nào. Vẫn có cái gì có vẻ chưa rõ ràng, thiếu an toàn đúng không?

Thật ra có rất nhiều mạo hiểm. Không chỉ vấn đề điều tiếng này kia. Mà còn là vấn đề ai thay ông Thanh, người thay ông Thanh có giữ được Đà Nẵng tốt như vậy hay không. Liệu rút ông ta ra thì ông ta có làm tốt nhiệm vụ ở TW hiệu quả như ở Đà Nẵng hay không. Hoàn toàn có khả năng mất cả chì lẫn chài khi rút 1 người tài ra khỏi vị trí thích hợp của họ như vậy, điều đó có nghĩa là Đà Nẵng có thể xuống dốc sau khi ông Thanh ra đi mà một "ông Thanh TW" cũng sẽ không bằng "ông Thanh BTTU Đà Nẵng", thế là cả hai đều tổn thất, trung ương và địa phương đều thiệt hại.

Cho nên việc dùng người là vô cùng khó khăn và phức tạp, nó không có 1 công thức nào nhất định. Nếu khoa học có 1 công thức nhất định về dùng người thì đã có 1 cỗ máy chọn người tài rồi.

Làm sao cho vừa phát huy được ưu điểm cá nhân cao nhất để phục vụ việc chung, vừa giữ được đoàn kết, vừa giữ được định hướng chiến lược của quốc gia, công ty, tổ chức là cả một vấn đề.

Lưu Bang (vua nhà Hán) và Hàn Tín (danh tướng nhà Hán, được nhiều học giả hiện đại công nhận là nhà cầm quân tài giỏi nhất trong lịch sử Trung Hoa) đều là nhân tài ngàn năm có một. Nhưng nếu chúng ta đem Lưu Bang cho làm tướng cầm quân và cho Hàn Tín làm vua thì có mà đại họa. Hàn Tín giỏi sử dụng quân, Lưu Bang giỏi sử dụng tướng, giỏi sử dụng những người như Hàn Tín. Mỗi người có một trách nhiệm, vai trò, phần việc, và ưu khuyết điểm của mình. Một lãnh đạo, ông chủ giỏi là một người biết đặt để cán bộ, nhân viên nào vào vai trò nào thì thích hợp nhất cho người đó, phát huy tối đa thiên hướng của người đó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà giáo ưu tú, là một nhà nghiên cứu sử học uyên thâm, nhưng nếu không có con mắt tinh đời như chủ tịch Hồ Chí Minh mà chỉ dùng cụ Giáp vào công việc giáo dục, cho làm giáo viên, hiệu trưởng v.v. thì cũng tốt thôi, nhưng có phải là đáng tiếc lắm không? Nếu như vậy thì làm sao VN có được một vị tướng lừng danh thiên cổ, một thiên tài quân sự vang danh bốn biển, làm rạng danh dân tộc VN?

Hán vương Lưu Bang nhìn thấy được năng lực cầm quân của Hàn Tín và "đăng đàn bái tướng" để lấy về quân uy cho Hàn Tín trong khi lòng quân chưa phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh cất nhắc một giáo viên sử học lên làm đại tướng, thống lĩnh một quân đội với những gánh nặng lịch sử trọng đại đầy gian nan thử thách. Chính là những con mắt nhìn người, đầu óc "out of the box thinking" (suy nghĩ vượt khỏi mọi bó buộc), thuật nhìn người, đoán người, xét người, dùng người, tấm gương "dụng nhân" thiên tài vậy.

Cho nên, như phân tích ở trên, dùng người không chỉ xem tốt hay không, bền hay không như dùng gỗ, không thể chỉ biết đến tiêu chí "hồng - chuyên", "tài - đức", đó chỉ là những tiêu chuẩn cao nhất, cơ bản nhất, còn ngoài ra phải xem xét đến từng yếu tố thích hợp cụ thể.

Con lừa, con thỏ có hồng có chuyên, có tài có đức gì không? Nhưng theo BTTU Nguyễn Bá Thanh thì:

Người đã làm cán bộ thì phải biết nhìn người, đừng nghĩ con lừa, con thỏ thì không ra trận được. Con thỏ nhát gan nhưng lại nhanh nhẹn thì để nó đưa thư, con lừa thì để nó đứng cạnh con voi, lúc con voi giương vòi thị uy thì con lừa hí lên, đối phương nhìn vào không hiểu đó là con vật gì mà oai dũng thế.


Cho nên đừng có chỉ nhìn vào mặt yếu của họ, mà nên biết tận dụng mặt mạnh của họ, xem họ có năng lực gì, có thể làm gì được, có kỹ năng gì, rồi giao cho họ công việc thích hợp.

Hiếm có người nào làm được tất cả mọi việc đều tốt. Nhưng cũng rất hiếm người nào làm tất cả mọi việc đều dở. Nhiệm vụ của người lãnh đạo là khai thác, tận dụng lên tối đa ưu điểm của cán bộ, nhân viên, và hạn chế xuống tối thiểu khuyết điểm của họ.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta quăng những tiêu chí cơ bản về hồng - chuyên, tài - đức vào sọt rác. Nó vẫn là 2 tiêu chí chung cao nhất để đánh giá và sử dụng hiền tài.

Cần làm rõ hơn những khái niệm này, gần đây khi nói chuyện trên báo chí, nhiều lãnh đạo nhà mình hay dùng từ "tài - đức" thay cho "hồng - chuyên", có lẽ để cho tất cả các đối tượng đều dễ nghe, nhưng thật ra nói "hồng - chuyên" thì mới chính xác. Trong các bài viết, bài nói của Bác Hồ, Bác Hồ luôn dặn dò phải tìm cán bộ "vừa hồng vừa chuyên" để giúp kiến thiết đất nước. Bác chủ yếu nhấn mạnh là "hồng và chuyên", chứ ít khi dùng từ "tài và đức".

"Hồng" (đỏ) là gì? "Hồng" cũng là đức, nhưng đó là đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản, đạo đức này gần như là một đặc tính chuyên nghiệp tất yếu của một công chức nhà nước XHCN, chứ không phải là đạo đức tôn giáo. Đạo đức của một hòa thượng hay ông cha bà sơ không giúp ích cho việc trị nước.

Một người "hồng" là một người yêu nước, yêu dân tộc, có tinh thần cách mạng, có chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong người, sẵn sàng cống hiến cho nhân dân. Đồng thời giữ vững khí tiết, giữ vững lập trường giai cấp, nghĩa là lập trường lợi ích của bà con lao động. Tuy họ yêu dân tộc, nhưng trong nội bộ một dân tộc thì đương nhiên là có những lợi ích đối lập và mâu thuẫn nhau, chủ yếu giữa giai cấp lao động và giai cấp tư sản, giai cấp lao động thì là đông đảo nhất trong xã hội, trong dân tộc. Vì vậy nếu vì nhân dân, nếu muốn dân chủ, thì về cơ bản phải đứng về phía lợi ích của giai cấp công nhân và bà con lao động.

Còn nếu ông đứng về phía lợi ích của một nhóm thiểu số tư sản tài phiệt chiếm chưa tới 3% dân số nhưng chiếm phần lớn tài sản quốc gia thì ông "dân chủ" kiểu gì? Dân chủ với ai, dân chủ cho ai? Khi một thiểu số tài phiệt chiếm phần lớn tài sản quốc gia, tước đoạt thặng dư, công sức lao động của giai cấp công nhân, người dân lao động, tầng lớp đông đảo nhất xã hội thì không thể gọi đó là "dân chủ" bất kể họ nấp sau hình thức chính trị nào, mô hình chính trị nào, dù gắn mác "cộng sản" hay "chống cộng", mang nhãn hiệu "XHCN" hay "TBCN".

Một người "hồng" ngày nay có thể hiểu là một người thật sự trung thành với chủ nghĩa Marx Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thật lòng muốn xây dựng CNXH, xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một cán bộ, đảng viên "hồng" là cán bộ, đảng viên trung kiên, gương mẫu, và có "đạo đức giai cấp", với lập trường giai cấp kiên định và vững vàng ý chí, một người thật sự giác ngộ giai cấp, không từ bỏ con đường, không đón gió trở cờ phản bội.

Như vậy "hồng" cũng tương tự "đức" nhưng cao hơn "đức" một bậc, khó hơn "đức" một bậc, là một đảng viên, cán bộ vừa tốt, vừa có những phẩm chất uy tín, liêm khiết nói trên, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, trung kiên cách mạng, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, nhận thức chính trị cao v.v.

"Hồng" khó phân định và phân biệt hơn "chuyên". Nhưng không có nghĩa là không thể phân biệt được. Chúng ta có thể theo dõi, để ý đánh giá ai "hồng" hay không qua các ăn nói hàng ngày của họ, những ăn nói hàng ngày thể hiện quan điểm chính trị của họ, người ta có thể giấu diếm, đóng kịch một vài ngày chứ không thể giấu diếm, đóng kịch năm này qua tháng nọ.

Thứ nữa là để ý đời sống, lối sống của họ, có điều tiếng gì hay không, có lời đồn ra vào gì hay không, và những tin đồn đó có căn cứ gì đáng lưu tâm hay không hay chỉ là những vu khống chụp mũ ác ý nói láo ăn tiền. Và quan trọng nhất: Xem xét lợi ích của họ, một người nắm trong tay ngân hàng, doanh nghiệp, bao nhiêu lợi ích của những tập đoàn tư sản, sống như một đại gia, thân nhân, con cái ăn mặc xa hoa, ăn xài phung phí, thậm chí ăn chơi trác táng hư hỏng, người nhà có điều tiếng không hay, có dấu hiệu lợi ích gia tộc, lợi ích phe nhóm, nằm trong các nhóm lợi ích tư sản nào đó v.v. thì làm sao họ có thể đứng về phía lợi ích giai cấp lao động được?

Những nhóm chính trị đó có thể giúp thúc đẩy tăng tốc phát triển kinh tế, nhưng cũng sẽ gây ra những thiệt hại cho các tiêu chí XHCN: Tài nguyên, môi trường, lợi ích công nhân, nông dân, người lao động, an sinh xã hội, khoảng cách giàu nghèo, phát triển thiếu bền vững, mâu thuẫn đất đai, bất công xã hội, đưa tới nguy cơ không còn quay đầu lại được với những chủ nghĩa cá nhân vị kỷ và tư tưởng thực dụng kiếm tiền hưởng thụ, thậm chí sinh ra những nhóm lợi ích, tầng lớp đặc quyền, nói thẳng ra là giai cấp tư sản, tư bản mới trong chính Đảng Cộng sản, tổ chức lẽ ra là lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đưa tới sự biến chất trong Đảng, sự thoái hóa về tư tưởng chính trị (người có tư tưởng chính trị vững vàng, có nhận thức chính trị sắc sảo thì đã không để xảy ra những vụ như Tiên Lãng), lý tưởng phai nhạt, sự mất đoàn kết (vì mâu thuẫn lợi ích vật chất), đưa đến sự tự chuyển hóa, tự diễn biến, tự hủy, tự diệt, tự rã trong Đảng và chế độ XHCN.

Đó là nguy cơ tồn vong sinh tử lớn nhất, trực tiếp nhất, hiện thực nhất của Đảng và chế độ. Và đó cũng không phải là nhận thức mới mẻ gì, mà chính Lenin đã nói từ xưa: Không có một lực lượng nào có thể tiêu diệt những người cộng sản, trừ chính những người cộng sản. Sau đó Bác Hồ cũng viết trong Di chúc: Đảng phải giữ gìn sự đoàn kết như giữ con ngươi của mắt mình. Và sau này những lời đó đã thành hiện thực khi Liên Xô mất đoàn kết và tự diệt vong. Dĩ nhiên là có sự tác động từ bên ngoài, nhưng nguyên nhân gốc rễ chính là sự tự băng hoại, tự hủy hoại trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô và chính thể Liên bang Xô viết.

Đó cũng là lý do vì sao các thế lực chống cộng hay lập ra các website, blogs bịa đặt hoàn toàn hoặc dựa vào những thông tin nào đó từ báo chính thống rồi thêu dệt thành "tam hư thất thực" (3 phần hư cấu, 7 phần sự thật) hoặc "thất hư tam thực" (7 phần hư cấu, 3 phần sự thật) để tung tin đồn về nội bộ Đảng và Nhà nước.

Hình ảnh một công ty xào xáo, nội bộ "chém giết" nhau, chia rẽ, mất đoàn kết, ai cũng tư lợi v.v. thì có thể ảnh hưởng ít nhiều tới lòng tin của khách hàng. Hình ảnh một chính đảng, chính thể như vậy cũng có thể ảnh hưởng ít nhiều tới niềm tin của nhân dân.

Khái niệm "chuyên" chính xác và cụ thể hơn khái niệm "tài". "Chuyên" là một chuyên môn, là một cái tài cụ thể ở một bộ môn nào đó, một công việc nào đó. Cái tài mà các Đảng bộ, Đảng ủy, và cơ quan Nhà nước cần là tài chính trị, tài lãnh đạo, những cái tài cụ thể để phục vụ cho công việc cụ thể nào đó theo yêu cầu, theo nhu cầu, chứ không phải là tài bóng đá, tài đánh cờ, đánh võ thuật, tài văn nghệ văn gừng v.v., những tài đó không giúp ích gì cho việc trị quốc.

Một xã hội chỉ có sử dụng người hiền, người "hồng", người đức mà bất tài, không chuyên, thì xã hội đó sẽ rất hiền lành những sẽ rất trì trệ.

Một xã hội chỉ có sử dụng người tài, người chuyên mà ác nhân thất đức, thì tất cả sẽ sụp đổ, công cuộc xây dựng một xã hội đẹp tươi sẽ thất bại, và xã hội sẽ dần biến chất thành một xã hội người ăn thịt người.

Hồng và chuyên, đức và tài, cái nào cần hơn? Chủ yếu là 2 cái đều cần như nhau và cần phải cân bằng, quân bình giữa 2 yếu tố đó. Nhưng khi thực tiễn đòi hỏi phải nghiêng về phía nào đó hơn, ưu tiên phía nào đó hơn, thì chúng ta ưu tiên cho phía nào, coi trọng cái nào hơn? Điều đó chúng ta có thể tham khảo câu mà Bác Hồ từng nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì là vô dụng.

Người hiền, người tốt dù tạm thời không có tài thì chúng ta vẫn dùng họ vào việc này việc kia, tuy khó thật, kém hiệu quả thật, nhưng vẫn dùng được trong một số vấn đề, nghiệp vụ thì bồi dưỡng dần, tiến bộ dần, người "hồng" là một người chuyên cần, siêng năng.

Người có tài nhưng gian manh ác độc xảo quyệt, thì cái tài đó là vô dụng cho quốc gia dân tộc, bởi cái tài đó được sử dụng cho lợi ích riêng của bản thân họ, chứ không vì lợi ích chung. Và nếu nó mâu thuẫn, đối lập nhau thì thật tai hại. Đồng thời dùng những người này không khác gì nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà, rất nguy hiểm, không biết nó sẽ làm phản lúc nào, rõ ràng là cái họa tâm phúc.

Kẻ bất tài mà độc ác thì không gây hại bao nhiêu. Nhưng kẻ có tài mà độc ác thì vô cùng nguy hiểm, gây ra tổn hại rất lớn. Ngu dốt + nhiệt tình = phá hoại nhỏ. Nhưng độc ác + mưu sâu = phá hoại lớn.

Công tác cán bộ, công tác nhân lực, công tác con người, công tác trồng người là quan trọng nhất hiện nay khi nói đến các đề tài xây dựng Đảng, phục vụ nhân dân, bảo vệ chế độ, phát triển đất nước v.v. Yếu tố con người là yếu tố trung tâm trong mọi vấn đề liên quan tới loài người. Dùng được nhân tài thì sẽ thắng, chảy máu nhân tài thì sẽ thua. Không có hiền tài thì sẽ thất bại và sớm muộn gì cũng tự sụp đổ nếu không bị người khác lật đổ. Có hiền tài thì sẽ chiến thắng và vượt qua hết mọi gian nguy. Hiền tài là nguyên khí quốc gia.

Vì vậy, học tập tấm gương Hồ Chí Minh, theo mình thì việc cần học nhất, đáng học nhất, cần tham khảo nhất, cần noi gương nhất chính là những gương tốt về nghệ thuật dùng người, công tác cán bộ, tìm người tài đức, nhìn ra điểm gì đó rồi cất nhắc, quy hoạch cán bộ, sử dụng, phân công, điều động đúng đắn chính xác, tuyển dụng và giữ chân hiền tài.

Có 2 vấn đề nổi cộm hiện nay về công tác cán bộ, nhân sự:

1. Cơ chế xin cho. Đây là một cơ chế xuất phát từ thói quen của văn hóa "giới thiệu người nhà, bạn bè", "đi cửa sau nhà quan năn nỉ" đậm tính thực lợi tiểu nông, phong kiến. Tất cả sự lạc hậu, trì trệ của công tác nhân lực đều bắt đầu từ đây và quá dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, hối lộ.

Đa số các công ty nhà nước là dùng cơ chế xin cho, muốn vào làm thì phải làm đơn xin. Nhiều công ty tư nhân của người Việt trong và ngoài nước tuy không có cơ chế xin cho, nhưng lại có một cơ chế tuyển dụng đầy hình thức, rất dễ giới thiệu người quen, người nhà vào làm, và buổi phỏng vấn tuyển dụng thường chỉ là chiếu lệ cho có, tác dụng của nó là trao đổi làm rõ thông tin, cà kê mặc cả, làm quen với nhau hơn là có tác dụng quyết định trong việc chọn người. Tiêu chí chọn người vẫn chủ yếu nằm ở bằng cấp, tiểu sử công việc, học vị, lý lịch, giới thiệu từ một cá nhân nào đó, chứ chưa nằm nhiều ở việc phát hiện tài năng, nhìn ra năng lực của đối tượng. Thói quen này xuất phát từ văn hóa khoa bảng phong kiến và tư tưởng thực dụng tiểu nông lâu đời.

Trong cuộc đấu tranh, cạnh tranh gay gắt, quyết liệt giữa 2 trường phái tả - hữu, 2 giá trị XHCN và TBCN trong thế giới hiện tại, trong khi các thế lực tư sản ở các nước tư bản phương Tây đã có một hệ thống tuyển dụng khoa học, khách quan, hợp lý, gần như hoàn chỉnh, còn quốc gia theo XHCN như VN thì vẫn chưa bỏ được những hủ tục lạc hậu về công tác con người, chưa xây dựng được một chế độ tuyển dụng văn minh hiện đại, thì có nghĩa là trong mặt trận làm ăn kinh doanh chúng ta đã thua ngay từ khi còn chưa ra trận.

Giới thiệu người quen vào làm khác với tiến cử hiền tài. Tiến cử hiền tài là ông giới thiệu người tài đức vào giúp cho lợi ích chung. Giới thiệu người nhà, người quen là ông giới thiệu người có lợi cho ông, vì lợi ích riêng của ông. Một cái vì lợi ích tập thể (giới thiệu vì đây là một người có tài có đức, sẽ đóng góp có hiệu quả cho việc chung), một cái vì lợi ích cá nhân (phát triển quan hệ với người ông giúp, xây dựng ơn nghĩa ân tình với người đó, hoặc để nhận được những lợi ích từ người ông giới thiệu, trong khi người đó đức tài đều tầm thường, như vậy là ông vì lợi ích riêng chứ không vì lợi ích chung).

Tiến cử nhân tài thì nên, nhưng giới thiệu người nhà, người quen thì phải bỏ. Đồng thời nên bỏ cơ chế xin cho và thay vào bằng một cơ chế tuyển dụng khoa học, văn minh, hiện đại, hợp tình lý, phù hợp với tiêu chí "công bằng" của XHCN, người tài đức phải được sử dụng xứng tầm với tài đức của họ. Cơ chế xin cho sẽ đưa đến những trường hợp "ngồi mát ăn bát vàng", không có tiêu chí rõ ràng minh bạch ai được ai không, người giỏi việc này làm phải việc kia, người tài đức không được trọng dụng, kẻ bất tài thì lại được giao cho trọng trách v.v.

2. Đa số các công ty nhà nước ở VN thường ít chủ động trong việc tìm người tài, mà cứ "nằm chờ sung rụng" chờ người ta tới làm đơn xin việc, chờ trên quy hoạch cán bộ cử người tới trợ giúp. Kể các các công ty tư nhân nhiều nơi cũng kém chủ động tìm người mà toàn là ngồi một chỗ chờ người khác tới kiếm mình, ngồi trong văn phòng máy lạnh đọc những đơn đăng ký xin việc.

Trong khi đó các công ty, doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc thì từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay luôn noi gương Lưu Bị "tam cố thảo lư" mời mọc, thu dụng Gia Cát Lượng, tích cực chủ động đi tìm, đi chào mời những người tài vào không chỉ các công ty, doanh nghiệp nhà nước, mà còn vào đội ngũ của Đảng CS, vào các cơ quan, tổ chức của Đảng CSTQ, Chính phủ và Nhà nước CHND Trung Hoa. Gần đây, khá nhiều công ty nhà nước của TQ ký hợp đồng với nhiều công ty "săn đầu người" ở TQ, Mỹ, phương Tây để "săn lùng" tài năng không chỉ ở trong phạm vi Đại Lục Trung Hoa, mà còn ở ngoài nước, ở bên Tây, đưa tới kết quả là hàng hàng lớp lớp nhân tài hải ngoại đã về Trung Quốc đầu quân, hiện nay ở TQ đầy những chuyên gia người nước ngoài và người nước ngoài gốc Hán, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ, khoa học tự nhiên, quản lý, kinh doanh, toán - lý - hóa, giáo dục, công nghiệp v.v.

Trung Quốc đã công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công và lâu nay luôn là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới, trở thành 1 trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thường những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như vậy đều có nguy cơ thiếu bền vững, khoảng cách giàu nghèo và tệ nạn tham nhũng tăng lên theo, nhưng với TQ thì họ đã kiềm hãm khá tốt những tiêu cực đó, mà vẫn giữ được tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới.

Theo ấn bản The World Factbook của cơ quan CIA và danh sách Chỉ số tham nhũng (PCI) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) thì hệ số Gini về khoảng cách thu nhập của Trung Quốc là 41.5 (càng gần 0 thì càng bình đẳng, càng gần 100 thì càng bất bình đẳng), hệ số Wealth Gini về cân bằng tài sản quốc gia (càng gần 0 thì càng bình đẳng, càng gần 1 thì càng bất bình đẳng) của TQ là 0.55, chỉ số tham nhũng của TQ là 3.6 (càng gần 10 thì càng trong sạch, càng gần 0 thì càng tham nhũng), xếp thứ 75 về độ trong sạch trong danh sách 182 quốc gia được Tổ chức Minh bạch Quốc tế thống kê năm ngoái. Nói chung là mặc dù phát triển kinh tế nhanh, nhưng TQ vẫn giữ được khoảng cách giàu nghèo và tham nhũng ở mức độ dưới trung bình so với mặt bằng thế giới.

Không chỉ ấn tượng ở những con số thống kê quốc tế, mà cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc cũng ngày càng vững chắc. Các địa phương phát triển ở TQ (Thượng Hải, Trùng Khánh, Bắc Kinh v.v.) không chỉ có "hạ tầng cứng" tốt hơn nhiều thành phố ở Mỹ (New York, Miami, Philadelphia, Houston, Memphis v.v.), chẳng hạn như tàu điện cao tốc, đường ngầm, sân bay, cảng và nhiều phương tiện phục vụ thương mại mà còn cả "hạ tầng mềm", chẳng hạn như tuổi thọ trung bình ở Thượng Hải cao hơn ở New York từ 3 đến 4 năm, tỷ lệ tử vong trong trẻ sơ sinh ở Thượng Hải thấp hơn ở New York. Tỷ lệ tội phạm hình sự cũng thấp hơn, so với New York thì Thượng Hải là nơi an toàn hơn nhiều để người dân có thể đi dạo phố suốt đêm v.v.

So với Trung Quốc thì Việt Nam, cũng theo các nguồn trên: Hệ số Gini về khoảng cách thu nhập của VN là 37.6, hệ số Wealth Gini về cân bằng tài sản quốc gia của VN là 0.68, chỉ số tham nhũng của VN là 2.9, xếp thứ 112 về độ trong sạch trong danh sách 182 quốc gia được Tổ chức Minh bạch Quốc tế thống kê năm ngoái.

Như vậy, khoảng cách thu nhập ở VN bình đẳng hơn TQ, nhưng khoảng cách tài sản thì TQ bình đẳng hơn. Khoảng cách thu nhập ở VN bình đẳng hơn TQ không có nghĩa là VN làm tốt hơn TQ, mà chủ yếu vì kinh tế VN chưa phát triển đến mức như TQ. Về mức độ tham nhũng thì TQ cũng thấp hơn VN nhiều.

Điều đáng nói là Trung Quốc đã đạt được những kết quả đó trong một hoàn cảnh có nhiều điểm bất lợi hơn Việt Nam, ví dụ TQ vẫn chưa thành một khối thống nhất thật sự như VN. TQ là một khối khá lỏng lẻo với chế độ chính trị khác ở Macao, Hồng Kông (hiệp ước giữa CHND Trung Hoa và vương quốc Anh quy định Hồng Kông phải được hưởng quy chế có tính chất tự trị cao ít nhất trong khoảng thời gian 50, 60 năm sau khi trả về TQ), chế độ chính trị, quân sự đối lập ở Đài Loan, phong trào độc lập ở Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, mà trong đó Đài Loan thực chất đã là một quốc gia ly khai, Tân Cương thì đã đấu tranh bạo động, rồi sự chống đối của các phong trào tôn giáo chính trị Pháp Luân Công hoặc mượn danh nghĩa của Pháp Luân Công v.v.

Có thể nói công tác nhân lực, cán bộ, trong đó có việc chủ động tìm người, kể cả chiêu mộ nhân tài ở ngoại quốc, "mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn sao bắt được chuột" của Trung Quốc đã góp phần lớn vào những kết quả, thành tựu mà nước này đạt được.

Nói chung chúng ta nên học hỏi, tham khảo tiền nhân, Bác Hồ, các vị cách mạng tiền bối, Trung Quốc, phương Tây, tinh hoa nhân loại để làm tốt hơn nữa công tác cán bộ, nhân lực, ở cả các phương diện tìm kiếm và phát hiện các tài năng, chiêu mộ và tuyển dụng họ, và giữ chân họ bằng chính sách đãi ngộ xứng đáng và xây dựng một môi trường làm việc tốt đẹp, thích hợp.

Nếu đối xử bất công, bất xứng, dùng nhưng không trọng, phân phối công việc không hợp lý hợp tình, lương bổng không tương xứng, môi trường làm việc hủ hóa, sa đọa, chỉ giỏi đấu đá lẫn nhau giành ăn thì dù có tìm được người, dùng được người tất cả cũng sẽ trở thành công cốc và trước sau gì họ cũng khăn gói ra đi "tìm chúa khác mà thờ". Không có gì đáng tiếc hơn là chúng ta bỏ công ra tìm thấy nhân tài, sử dụng và đào tạo nhân tài đó, làm cho thương hiệu và giá trị của nhân tài đó thăng tiến lên cao, rồi đành "trơ mắt ếch" nhìn nhân tài đó khăn gói đi làm giàu cho công ty khác, mình khổ cực đào tạo nhân tài cho người khác hưởng. Cho nên việc giữ chân nhân tài có lẽ là quan trọng nhất, quan trọng hơn cả việc tìm tòi phát hiện và sử dụng nhân tài.

Chúng ta kiên quyết bảo vệ Tổ quốc trước chủ nghĩa Đại Hán, tư tưởng bá quyền, thái độ bành trướng của Trung Quốc, giữ gìn chủ quyền đất nước ở Biển Đông, không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền của VN ở Hoàng Sa - Trường Sa. Kiên quyết chống lại bọn diều hâu, hiếu chiến, cực đoan của Bắc Kinh. Nhưng chúng ta không phủ nhận, kỳ thị, tẩy chay, phản đối những cái hay ho, hiệu quả, tích cực, đáng học hỏi, đáng tham khảo của TQ để từng bước bắt kịp họ.

Ngày xưa các vua quan Đại Việt đã tham khảo Tôn Võ binh pháp để đánh bại mấy chục đạo quân xâm lược từ phương Bắc. Các nhà quân sự hiện đại của Việt Nam cũng tham khảo nhiều binh pháp Đông Tây kim cổ, trong đó có cả Luận trì cửu chiến của Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài để đánh bại 50 vạn quân viễn chinh của Đặng Tiểu Bình, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu năm 1979, sử dụng vũ khí Trung Quốc viện trợ hoặc chuyển giao cho VN từ Liên Xô trước năm 1975 để chống lại sự tấn công xâm lược của TQ. Danh ngôn bên Tàu gọi là "dĩ độc công độc" (lấy độc trị độc). Tiếp cận, tiếp thu, học hỏi địch để đánh địch, dùng vũ khí của địch để đánh địch, dùng thuốc men của địch để trị bệnh cho đồng đội ta v.v. đều không phải là những gì xa lạ mới mẻ.

Học hỏi Trung Quốc những gì? Học gì từ mô hình Trung Quốc? Trước mắt, về chiến lược thì nên học tư duy cải cách của họ, nhưng với một tinh thần khách quan tỉnh táo và cảnh giác cách mạng cao, vì không phải tất cả những gì họ làm đều đúng, đều phù hợp với lợi ích của người dân lao động, phù hợp với các tiêu chí của XHCN, tốt cho môi trường, hay phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Về chiến thuật thì nên học hỏi cụ thể công tác cán bộ, "chào mời", tuyển dụng, sử dụng và giữ chân nhân tài của họ, về các nỗ lực săn lùng người tài, công ty nhà nước hợp tác với các công ty "săn đầu người" ở Mỹ và phương Tây, cải cách tiền lương, đãi ngộ xứng tầm, ưu ái tin dùng, cải cách môi trường làm việc, văn hóa công sở v.v.


Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình mặc thường phục gặp mặt nhà văn danh tiếng Kim Dung

Phong cách "Lưu Bị cầu Khổng Minh" của Trung Quốc đã thu hút và làm "mềm lòng", "siêu lòng" nhiều nhân tài gốc Hán ở hải ngoại trở về phục vụ Đại Lục. Điều này cũng không có gì mới, Đặng Tiểu Bình đã từng gặp tiểu thuyết gia, nhà văn nổi tiếng của Hồng Kông là Kim Dung để thu phục nhân tâm, bất kể việc gia đình Kim Dung có gia thù với Tứ nhân bang (Bè lũ bốn tên), cha ông bị hành hình trong cuộc cải cách điền địa và gia đình ông chịu lao đao trong những cái gọi là "đại nhảy vọt", "cách mạng văn hóa".

Sau khi được Đặng Tiểu Bình đích thân tới gặp và thuyết phục, nhà văn Kim Dung đã nói: "Mọi người ở dưới suối vàng không thể sống lại được, coi như chuyện đã rồi!" và "Số mệnh của phụ thân chỉ là bi kịch xảy ra trong buổi giao thời thay đổi triều đại, bản thân hầu như đã không còn ghi nhớ chuyện cũ nữa."

Sau đó, Đặng Tiểu Bình đã thông qua Kim Dung, tuyên truyền đến hàng triệu độc giả hâm mộ Kim Dung ở Hồng Kông, Macao, Đài Loan, Malaysia, Singapore, Philippines, Indonesia và ở hải ngoại về Nghị quyết lần thứ 6 của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Trung Quốc, nâng cao hình ảnh của Đặng Tiểu Bình và CHND Trung Hoa. Sau buổi gặp gỡ đó Kim Dung đã trở thành một cảm tình viên của Đặng Tiểu Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc, và với vai trò của một cây bút chính luận tiếng tăm với nhiều bài xã luận sâu sắc, Kim Dung đã trở thành người tuyên truyền cho các chính sách, quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông với nhật báo Hồng Kông Minh Báo tờ báo do chính ông sáng lập và làm tổng biên tập đầu tiên vào năm 1959. Là một người tham gia chính trị Hồng Kồng từ rất lâu, ông cũng là thành viên của Ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông và cũng là thành viên của Ủy ban Chuẩn bị Giám sát sự Chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc. Ông có công rất lớn trong việc trấn an, làm công tác tư tưởng do dân chúng Hồng Kông trước sự kiện Hồng Kông sắp được trả về cho Trung Quốc năm 1997.

Đến tuổi 80 Kim Dung vẫn một mực thần tượng Đặng Tiểu Bình, năm 2005 trong cuộc họp báo ở Hồng Kông mừng đại thọ, trước câu hỏi của phóng viên:

- Trong số những nhà chính trị, tại sao ông chỉ kính trọng riêng một người là Đặng Tiểu Bình?

Kim Dung đã trả lời:

- Đó là anh hùng, đại anh hùng. Khi tôi viết truyện võ hiệp, viết đến đại anh hùng là lòng tôi khâm phục. Được gặp Đặng Tiểu Bình, nghe ông nói mấy câu, tôi thực sự cảm phục ông.

Sở dĩ Đặng Tiểu Bình hướng Kim Dung mà "cầu hiền" là vì Kim Dung là người có thông tin, có uy tín rất tốt giữa hai bờ eo biển. Ông ta có gốc văn hóa truyền thống rất sâu đậm, có sức hiệu triệu lớn đối với thế giới người Hoa; đồng thời, Kim Dung trong nhiều năm trước đã bút chiến với Tứ nhân bang, chống Cách mạng văn hóa, chống Giang Thanh, ông có thanh danh tốt là người có tiếng trung hậu chính trực ở hải ngoại.

Từ năm 1955 đến 1972 ông đã viết tổng cộng 15 tiểu thuyết. Sự nổi tiếng của những bộ truyện đó khiến ông được coi là người viết tiểu thuyết võ hiệp thành công nhất. 300 triệu bản in (chưa tính một lượng khổng lồ những bản in lậu, xuất bản chui) đã đến tay độc giả của Hoa Lục, Hồng Kông, Đài Loan, châu Á và đã được dịch ra tiếng Việt, Hàn, Nhật, Thái, Anh, Pháp, Indonesian v.v. Tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành hàng trăm phim truyền hình, phim điện ảnh, trò chơi điện tử, truyện tranh v.v. Các nhân vật chính diện và phản diện của ông được người ta đặt tên cho con cái. Hàng ngàn tác phẩm văn học ở Việt Nam (chủ yếu trước giải phóng) và các nước nói trên đã nhái theo truyện Kim Dung, đạo văn truyện Kim Dung, và mạo nhận, lợi dụng bút danh Kim Dung để câu khách, bán sách được chạy. Tháng 2 năm 2006, ông được độc giả bầu là nhà văn được yêu thích nhất Trung Quốc.

Lưu Bị cầu Khổng Minh, Đặng Tiểu Bình cầu Kim Dung, Kim Dung bỏ qua thù cha mà cảm phục Đặng Tiểu Bình, ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhạc sĩ Phạm Tuyên bỏ qua thù cha (cha ông là Phạm Quỳnh, bị một số chiến sĩ Việt Minh xử tử) mà cảm phục chủ tịch Hồ Chí Minh, đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành một "đại công thần" của cách mạng Việt Nam. Tất cả những hiện tượng đó không giống nhau hoàn toàn, nhưng nó giống nhau ở những tấm gương kinh điển về lòng yêu nước chân thật (mặc dù bỏ qua cả thù nhà để phục vụ đất nước nhưng bản thân họ chưa bao giờ vỗ ngực tự nhận mình hoặc phe nhóm mình là "người yêu nước" như một số kẻ ồn ào đang làm hiện nay), những tư tưởng lớn gặp nhau về nghệ thuật tìm người, dùng người, thu phục nhân tài, cảm hóa kẻ sĩ.

Đối với lịch sử Việt Nam năm 1979 thì Đặng Tiểu Bình là một tên trùm xâm lược, nhưng cái gì hay của ông ta mà tốt cho cách mạng, có thể dùng để phục vụ quốc gia, thì nên tham khảo, học hỏi. Những nghệ thuật lãnh đạo, nghệ thuật thu hút trí thức, sĩ phu đó, nghệ thuật thu phục nhân tâm đó của Đặng khách quan mà nói là rất đáng khâm phục và các lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia rất nên tham khảo, học hỏi. Một nguyên thủ quốc gia, một nhà lãnh đạo cao nhất mà có thể hạ cố làm những việc đó thì ai mà không động lòng, động tâm, cảm thán, kính phục?

Trước áp lực, sức nặng, sức ép bành trướng bá quyền, mưu đồ độc chiếm Biển Đông của gã hàng xóm khổng lồ, Nếu không đuổi kịp được Trung Quốc thì chỉ có thể bảo vệ được biên giới nhưng sẽ rất khó khăn để bảo vệ Biển Đông, hải đảo.

Thiếu Long